
Friday, December 5, 2008
Thăng hoa chả Bắc gia truyền…
Bài, ảnh ĐỨC TUẤN
Có thể nói đến giờ này, hệ thống sản xuất chả giò gia truyền Nguyên Hương (xuất xứ từ tỉnh Hải Dương) chưa áp dụng một chiêu thức tiếp thị hiện đại nào nhưng dấu ấn của sản phẩm này đã lừng lẫy năm châu, chí ít là trong giới người Việt sành ăn! “Kinh doanh ẩm thực nên “chắc cú” nhất là đi lên bằng truyền… miệng”, chị Nguyễn Thị Thu, chủ thương hiệu giò chả Nguyên Hương tại TP Tuy Hòa (Phú Yên) tự hào.
Tại Tuy Hòa, giá bán giò chả Nguyên Hương bao giờ cũng cao hơn sản phẩm tương tự của lò khác sản xuất. Mặt bằng thu nhập của người Tuy Hòa-Phú Yên chưa cao nên Nguyên Hương luôn cố gắng giữ mức lợi nhuận vừa phải, cốt yếu là gìn giữ uy tín chất lượng để duy trì đều đặn lượng hàng bán ra và nâng dần số lượng, doanh thu. Thức khuya dậy sớm, chân chỉ làm ăn bằng cả tấm lòng say nghề lại là một yếu tố khác để thành công của vợ chồng chị Thu. Rời Hải Dương “hành quân” đến Phú Yên lập nghiệp năm 1994, từ hai bàn tay trắng, giờ này gia đình anh chị Thu đã có cơ ngơi bề thế, con cái học hành đến nơi đến chốn, lại còn vài người cháu cùng vào định cư theo chân cây chả Bắc.
Miếng chả mịn màng, thơm phức, giòn ngọt, dứt khoát không thêm chất phụ gia “bất chính”, tuân thủ triệt để các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm; đó cũng là phần cốt yếu của chữ “tín” của Nguyên Hương. Bí quyết của Nguyên Hương cũng không phải là điều quá lạ, ngoài kỹ thuật và sự nhạy cảm trong quy trình xay giã - nêm nếm - bó - hấp, thì nguyên liệu đầu vào bắt buộc phải là loại thịt heo nạc đùi tươi “tuyển”, chất lượng nhất trong bất cứ hoàn cảnh nào. “Nếu không có nguyên liệu tốt thì Nguyên Hương… dừng làm! Nếu có lúc giá nguyên liệu “xịn” có lỡ đội giá thành thì bạn hàng, khách quen của Nguyên Hương cũng sẵn sàng chấp nhận, chứ sản phẩm của thương hiệu này không thể… giả cầy!”, anh Nguyễn Văn Hùng, chồng chị Thu, nói về nguyên tắc của lò chả gia đình. Anh Hùng còn ví von khi triết lý “một lần và mãi mãi” trong ẩm thực; anh còn nhớ hồi bao cấp, giò chả Nguyên Hương thuộc hàng thức ăn xa xỉ nhưng vẫn có nhiều khách trung thành, luôn dành dụm, tiết kiệm nhiều món chi khác để mua chả giò về ăn. Ngoài việc cung ứng sỉ, thấy nhiều người Phú Yên “siêng” ăn bánh mì, Nguyên Hương bèn chuyển một bộ phận nhân công sang bán bánh mì chả giò, chả quế. Cũng chỉ bánh mì kẹp chả, thêm tí rau hành-ngò, muối tiêu và nước tương; thế nhưng nơi nào Nguyên Hương đặt xe bánh mì là nơi đó đều có cảnh… chen lấn, xếp hàng! Dự tính tiếp theo của anh chị Thu là mở thêm điểm bán xôi gấc chả giò Nguyên Hương…
Với tay nghề chế biến giò chả gia truyền Nguyên Hương, những người trong dòng họ chia nhau “cát cứ” mỗi người một tỉnh, kể cả tận Mỹ, Canada, Úc,… hầu như không có sự “đụng đầu” cạnh tranh không cần thiết; và theo chị Thu thì tất cả bà con cô bác trong gia tộc làm giò chả đều ăn nên làm ra, con cái phương trưởng, lâu lâu du lịch gặp nhau thì “ăn chơi, đãi đằng” rất thịnh soạn. Chị Thu cho biết thêm: cũng bởi chưa đầu tư nhiều cho việc quảng bá nên khách quen người Phú Yên cứ phải đến chỗ chị mua chả giò gởi cho người thân hàng mấy trăm cây số, để ăn cho… đỡ nhớ! Chị khẳng định: chất lượng, hương vị thương hiệu chả Nguyên Hương gia truyền trong dòng tộc tại các tỉnh thành trong nước và nhiều nước trên thế giới đều “iso” thơm ngon, quyến rũ tương đương nhau… Phải chăng đây là “bí truyền” để thực khách không chán giò chả gia tộc Nguyên Hương, dẫu món này làm từ… thịt?
Bài, ảnh ĐỨC TUẤN
Có thể nói đến giờ này, hệ thống sản xuất chả giò gia truyền Nguyên Hương (xuất xứ từ tỉnh Hải Dương) chưa áp dụng một chiêu thức tiếp thị hiện đại nào nhưng dấu ấn của sản phẩm này đã lừng lẫy năm châu, chí ít là trong giới người Việt sành ăn! “Kinh doanh ẩm thực nên “chắc cú” nhất là đi lên bằng truyền… miệng”, chị Nguyễn Thị Thu, chủ thương hiệu giò chả Nguyên Hương tại TP Tuy Hòa (Phú Yên) tự hào.
Tại Tuy Hòa, giá bán giò chả Nguyên Hương bao giờ cũng cao hơn sản phẩm tương tự của lò khác sản xuất. Mặt bằng thu nhập của người Tuy Hòa-Phú Yên chưa cao nên Nguyên Hương luôn cố gắng giữ mức lợi nhuận vừa phải, cốt yếu là gìn giữ uy tín chất lượng để duy trì đều đặn lượng hàng bán ra và nâng dần số lượng, doanh thu. Thức khuya dậy sớm, chân chỉ làm ăn bằng cả tấm lòng say nghề lại là một yếu tố khác để thành công của vợ chồng chị Thu. Rời Hải Dương “hành quân” đến Phú Yên lập nghiệp năm 1994, từ hai bàn tay trắng, giờ này gia đình anh chị Thu đã có cơ ngơi bề thế, con cái học hành đến nơi đến chốn, lại còn vài người cháu cùng vào định cư theo chân cây chả Bắc.
Miếng chả mịn màng, thơm phức, giòn ngọt, dứt khoát không thêm chất phụ gia “bất chính”, tuân thủ triệt để các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm; đó cũng là phần cốt yếu của chữ “tín” của Nguyên Hương. Bí quyết của Nguyên Hương cũng không phải là điều quá lạ, ngoài kỹ thuật và sự nhạy cảm trong quy trình xay giã - nêm nếm - bó - hấp, thì nguyên liệu đầu vào bắt buộc phải là loại thịt heo nạc đùi tươi “tuyển”, chất lượng nhất trong bất cứ hoàn cảnh nào. “Nếu không có nguyên liệu tốt thì Nguyên Hương… dừng làm! Nếu có lúc giá nguyên liệu “xịn” có lỡ đội giá thành thì bạn hàng, khách quen của Nguyên Hương cũng sẵn sàng chấp nhận, chứ sản phẩm của thương hiệu này không thể… giả cầy!”, anh Nguyễn Văn Hùng, chồng chị Thu, nói về nguyên tắc của lò chả gia đình. Anh Hùng còn ví von khi triết lý “một lần và mãi mãi” trong ẩm thực; anh còn nhớ hồi bao cấp, giò chả Nguyên Hương thuộc hàng thức ăn xa xỉ nhưng vẫn có nhiều khách trung thành, luôn dành dụm, tiết kiệm nhiều món chi khác để mua chả giò về ăn. Ngoài việc cung ứng sỉ, thấy nhiều người Phú Yên “siêng” ăn bánh mì, Nguyên Hương bèn chuyển một bộ phận nhân công sang bán bánh mì chả giò, chả quế. Cũng chỉ bánh mì kẹp chả, thêm tí rau hành-ngò, muối tiêu và nước tương; thế nhưng nơi nào Nguyên Hương đặt xe bánh mì là nơi đó đều có cảnh… chen lấn, xếp hàng! Dự tính tiếp theo của anh chị Thu là mở thêm điểm bán xôi gấc chả giò Nguyên Hương…
Với tay nghề chế biến giò chả gia truyền Nguyên Hương, những người trong dòng họ chia nhau “cát cứ” mỗi người một tỉnh, kể cả tận Mỹ, Canada, Úc,… hầu như không có sự “đụng đầu” cạnh tranh không cần thiết; và theo chị Thu thì tất cả bà con cô bác trong gia tộc làm giò chả đều ăn nên làm ra, con cái phương trưởng, lâu lâu du lịch gặp nhau thì “ăn chơi, đãi đằng” rất thịnh soạn. Chị Thu cho biết thêm: cũng bởi chưa đầu tư nhiều cho việc quảng bá nên khách quen người Phú Yên cứ phải đến chỗ chị mua chả giò gởi cho người thân hàng mấy trăm cây số, để ăn cho… đỡ nhớ! Chị khẳng định: chất lượng, hương vị thương hiệu chả Nguyên Hương gia truyền trong dòng tộc tại các tỉnh thành trong nước và nhiều nước trên thế giới đều “iso” thơm ngon, quyến rũ tương đương nhau… Phải chăng đây là “bí truyền” để thực khách không chán giò chả gia tộc Nguyên Hương, dẫu món này làm từ… thịt?
Một nhân vật văn hoá độc đáo…
Phóng sự HÙNG PHIÊN
Tên tui Đỗ Như Phước / Tóc bạc trắng như cước / Dáng to béo tầm thước / Người rất thích hài hước / Thấy gì hay bắt chước / Không ham chức ham tước / Chỉ ham tích đầy phước... Mấy dòng “lý lịch trích ngang” của nhà sưu tập “thế giới” hàng đầu Việt Nam, ông “trùm” thơ độc vận và là người làm từ thiện nổi tiếng Đỗ Như Phước vừa qua đời ngày 7.11.2008 ở tuổi 72 (ông sinh năm Bính Tý-1936)…
Về Phú Yên, hỏi “ông Phước nhà thơ” thì hầu như ai cũng biết, bởi ông quá nổi tiếng với những “món chơi” độc sầu, lại thường lên ti vi để nói chuyện và đọc thơ vui. Ví như xuân rồi, mừng năm tuổi của mình, ông làm bài thơ vần “í” dài đến 50 câu nhưng công chúng đêm thơ Nguyên tiêu núi Nhạn (Tuy Hòa) đã phăng phắc lắng nghe rồi vỗ tay rần rần. Bởi có “đủ thứ chuyện” như: WTO đã ký / Hội nhập thật hợp lý / Triệu người một ý chí / Quyết nâng cao dân trí / Tháo gỡ mọi thế bí / Sản xuất vượt tiêu chí / Được thế giới chú ý / Việt Nam nâng vị trí…; đến việc Không nên say lúy túy và tranh thủ … nịnh vợ: Chớ có đi bồ nhí / Để vợ cưng vợ quý… Hay như năm con Dê (Quý Mùi) ông làm thơ “ê”: Trai gái tuổi cập kê / Tối tối ra bờ đê / Ngồi dưới gốc cây lê / Bàn chuyện… trồng cà phê…, rồi không quên “làm tư tưởng”: Ăn xong Tết con dê / Công việc chớ bỏ bê / Không kéo dài lê thê / Học thêm tiếng Ăng-lê / Lấy vi tính bằng C…
Nhiều người biết, ông Đỗ Như Phước chẳng bao giờ nghĩ mình là nhà thơ, phải khó nhọc để làm thơ, “vần vè cho vui mà”, thế nhưng dân gian cứ gọi ông là nhà thơ! Cũng như chuyện ông được “đặc cách” đọc thơ trong Đêm thơ Nguyên tiêu núi Nhạn, được công chúng hưởng ứng nhiệt thành nhưng không ít nhà làm thơ “nghệ thuật” phản đối: “Đây là sân của nghệ thuật nghiêm túc, sao để thơ “dưỡng sinh” của ông Phước chen vào?”. Ông vui vẻ: “Vậy thì thôi!”. Thế nhưng có kỳ Nguyên tiêu vắng ông, công chúng chất vấn ban tổ chức tới tấp, thế là ông trở thành một thứ “đặc sản” nghiêm túc của đêm thơ, và cũng duy nhất một mình ông không đọc thơ “nghiêm túc” trong đêm thơ Nguyên tiêu lừng danh trên núi này…
Quả thật, ông không chối thơ mình đích thị là để “dưỡng sinh” chứ đâu mong khẳng định tên tuổi; ông chỉ làm chơi “cho khỏe người” thôi, còn ai nhớ là chuyện… của họ; vậy mà thơ ông cũng thấy người ta truyền miệng đọc đầy đường… Thế nhưng không phải ai làm thơ như ông Phước cũng được người đời nhớ! Nhiều người khó tính với nghệ thuật cũng phải “bái lạy” chất dí dỏm thông minh và cái “duyên ngầm trời cho” của bút pháp Đỗ Như Phước; chẳng những “nghệ thuật hóa” loại thơ dân gian độc vận, ông còn là người đi tiên phong sáng tác loại thơ “chân lý” mà có những câu cứ tưởng của… ai: Quê tôi có một dòng sông / Mùa hè nước cạn, mùa đông lại đầy / Mặt trời mọc đông lặn tây / Cá lội dưới nước, chim bay trên trời…
Xuất phát từ cuộc chiến với ung thư, ông đã biến đời mình thành một cuộc chơi đầy ý vị và có được những thành quả… ngoài dự đoán! Mê chơi “đủ món” và lĩnh vực nào cũng có thành tựu. Suốt ngày hồn hậu nói chuyện hài hước nhưng ít ai biết được ông già 72 tuổi đã chiến đấu từng giờ với căn bệnh ung thư đeo đẳng suốt 40 năm qua (mái tóc bạc sớm cũng do việc “xạ trị” ung thư), bên mình lúc nào cũng phải gắn hậu môn nhân tạo là một bọc… chuyên dụng! Ngay cả cái “bãi đáp” này cũng được ông trào lộng: Thế giới có vệ tinh nhân tạo / Phước tui có… hậu môn nhân tạo! Ông cười hề hề và mở thắt lưng chỉ tôi xem cái “bãi đáp” của mình một cách hồn nhiên.
Ông thú thật chính việc đặt vè độc vận đã đem lại cho ông và mọi người niềm vui vô bờ bến. Phong thái hài hước cũng đã giúp ông mở lòng giao du với khắp nơi, tất cả mọi người, năm châu bốn biển. Ông kể đã có lần đọc thơ “độc vận” bằng… tiếng Nga làm cho quan khách nhiều nước ôm bụng cười “lăn lê bò toài”. Chính mối quan hệ rộng rãi này đã đưa ông đến với công việc ở Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị tỉnh Phú Khánh, rồi Phú Yên khi trở lại quê nhà. Như cá gặp nước, bản tính hồn hậu cởi mở, ham đi đó đây, ông lại như muốn thu cả thế giới về nhà mình qua các kỷ vật của tất cả các nước trên thế giới, chủ yếu là những thứ rẻ tiền như cờ, huy hiệu, kỷ niệm chương, búp bê... của các nền văn hóa trên thế giới. Nhiều nước bây giờ không còn tên trên bản đồ thế giới nhưng lại hiện hữu ở… nhà ông Đỗ Như Phước! Ky cóp 40 năm, căn nhà ông đã trở thành một bảo tàng thực thụ với trên 10.000 kỷ vật của 84 nước trên thế giới!
Đường quan chức của ông có thể thênh thang nếu “thích”, bởi ông tham gia cách mạng sớm, có trình độ, tư chất thông minh, gia đình ông có nhiều người thành đạt… Nhưng đời với ông “vui là chính, làm tới chức quan… hữu nghị chớ ít sao!” rồi về hưu mê say làm chuyện “tào lao” và lặn lội “cúi mình” đi gõ cửa vận động từ thiện. Có thể ông rất giàu nếu bán một số “chuyện chơi”, ví như ông đã lắc đầu từ chối khi một “đại gia” đặt vấn đề chuyển nhượng bộ sưu tập nồng ấm tình quốc tế này với giá trên 1 tỷ đồng! Thế nhưng ông Phước sẵn sàng tặng… Cuối năm 2007, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã “nghe danh-đánh tiếng” và ông Đỗ Như Phước đã tặng 84 huy hiệu-tranh-tượng-mô hình lưu niệm của các nước cho bảo tàng này. Thư cảm ơn của Giám đốc bảo tàng này có đoạn: “Hành động của ông Đỗ Như Phước là một nghĩa cử cao đẹp có ý nghĩa tác động sâu rộng với các tầng lớp xã hội trong vấn đề hiến tặng di sản Văn hóa cho Bảo tàng quốc gia”.
Sự nghiệp của ông bề thế như vậy nhưng khi tôi hỏi “Bác thích “thứ” nào nhất?”, ông Đỗ Như Phước vô tư: “Làm thơ con cóc”! Và năm con trâu này, ông có còn làm bài thơ vần “âu”?…
H.P
Nghệ sĩ ở tỉnh…
Đức Tuấn
Xin bớt chút thời gian cho tôi lạm bàn về chuyện địa bàn sống và sự đóng góp của nghệ sĩ. Xin hiểu đơn giản đây chỉ là đôi điều so sánh chuyện nghề, chuyện sống của nghệ sĩ ở tỉnh và nghệ sĩ tại các thành phố lớn…, so sánh trong giới hạn hiểu biết của người viết. Và làm sao để nghệ sĩ ở tỉnh vươn lên khẳng định mình với công chúng thưởng thức đang ngày càng đòi hỏi cao hơn trước. Trước hết phải nói, bản thân tác phẩm nghệ thuật có lớn hay không, chẳng có nhiều liên quan đến chuyện người nghệ sĩ sống ở tỉnh hay ở thành phố lớn. Chẳng phải với khả năng tầm tầm nhưng đến nơi đo hội là anh được biết đến. Khả năng anh đến đâu, anh chỉ thể hiện được đến đó thôi, không hơn không kém! Thế nhưng, có nhiều nghệ sĩ ở các tỉnh lại có suy nghĩ: phải đến sống ở các trung tâm văn hóa- kinh tế thì tác phẩm của mình mới có điều kiện… lớn được!? Có thể, nơi chốn năng động, giao lưu mạnh thì tác phẩm ra lò dễ có điều kiện đến với công chúng hơn và thu nhập của nghệ sĩ rủng rỉnh hơn. Tuy nhiên, thời đại công nghệ thông tin - internet bây giờ, chuyện khoảng cách địa lý không hẳn là điều quá quan trọng nữa rồi. Vấn đề là tác phẩm của anh làm ra có mới mẻ, giá trị đích thực hay không… Tuy nhiên, có một thực tế là nghệ sĩ ở các tỉnh nhiều khi hay có đôi nét suy nghĩ yếm thế, làm lấy có để phục vụ tại chỗ, đóng cửa khen nhau, và thế là cái sự vươn lên khẳng định có phần ít oi… Ở các tỉnh trong nươc ta bây giờ, từng lĩnh vực nghệ thuật như: sân khấu, âm nhạc, hội họa, kiến truc, văn học,… đều có những nghệ sĩ đứng chân và họ đều có những đóng góp nhất định đối với nhu cầu thưởng ngoạn của người dân địa phương. Đôi khi, sự đóng góp của họ ở trong tỉnh là khá lớn nhưng bước ra ngoài tỉnh thì ầu như chẳng ai biết về tác phẩm của họ… Thiển nghĩ, sự đóng góp tích cực, dù nhỏ dù lớn của tác phẩm nghệ thuật đều đáng quý, đáng trọng. Mỗi sắc thái văn hóa của từng địa phương, công chúng mỗi vùng đều có cái “gu” riêng trong chuyện yêu và đến với văn nghệ. Vì thế, công chúng tỉnh nào cũng rất cần những con người nghệ sĩ tại chỗ, am hiểu tận cùng vùng đất của họ để phổ hồn của đất của người nơi đó thành tác phẩm nghệ thuật. Và dù tác phẩm ấy, nơi khác không biết nhưng vẫn là tác phẩm nằm lòng của dân bản địa; thế là vui cho nghệ thuật, vui cho nghệ sĩ lắm rồi còn gì… Cũng có một thực tế khác là sự phát triển thông tin, dân trí hiện nay đã tạo nên một lớp công chúng mới, có những đòi hỏi mới về thưởng thức nghệ thuật. Thế nên, họ mặc nhiên không dùng đến những sản phẩm văn nghệ nhàng nhàng kiểu phong trào, “nghệ thuật cấp tỉnh” (như lời một số người). Sự giao thương, giao lưu sản phẩm nghệ thuật tại nhiều tỉnh bây giờ cũng đã phong phú không kém mấy các thành phố lớn, nên sự lựa chọn của công chúng đã thuận lợi hơn nhiều. Điều này dẫn đến việc một số nghệ sĩ ở tỉnh bị mất “khách hàng” ngay trên “thị phần” của mình… Tán đôi lời để thấy rằng vấn đề cốt lõi của nghệ thuật là phải tạo được hiệu ứng. Xin cho phép mong mỏi rằng nghệ sĩ tại tỉnh phải dùi mài, tạo dựng tác phẩm hay thêm nhiều để công chúng tỉnh đó thêm cơ hội “mở mày mở mặt” với thiên hạ. Những hạt nhân, những đỉnh cao văn nghệ luôn là sự kiếm tìm, trân trọng của công chúng, của nhân dân. Mong lắm thay những tài năng nghệ thuật ở các tỉnh có thể bay lên để nới rộng tầm ảnh hưởng. Đó cũng là một cách quảng bá chất văn hóa, hình ảnh của tỉnh nhà ra với nhiều người, nhiều nơi hơn nữa… Và khi nghệ sĩ có được “thương hiệu” thì mọi chuyện cũng… dễ!
Đ.Đ.T
Đức Tuấn
Xin bớt chút thời gian cho tôi lạm bàn về chuyện địa bàn sống và sự đóng góp của nghệ sĩ. Xin hiểu đơn giản đây chỉ là đôi điều so sánh chuyện nghề, chuyện sống của nghệ sĩ ở tỉnh và nghệ sĩ tại các thành phố lớn…, so sánh trong giới hạn hiểu biết của người viết. Và làm sao để nghệ sĩ ở tỉnh vươn lên khẳng định mình với công chúng thưởng thức đang ngày càng đòi hỏi cao hơn trước. Trước hết phải nói, bản thân tác phẩm nghệ thuật có lớn hay không, chẳng có nhiều liên quan đến chuyện người nghệ sĩ sống ở tỉnh hay ở thành phố lớn. Chẳng phải với khả năng tầm tầm nhưng đến nơi đo hội là anh được biết đến. Khả năng anh đến đâu, anh chỉ thể hiện được đến đó thôi, không hơn không kém! Thế nhưng, có nhiều nghệ sĩ ở các tỉnh lại có suy nghĩ: phải đến sống ở các trung tâm văn hóa- kinh tế thì tác phẩm của mình mới có điều kiện… lớn được!? Có thể, nơi chốn năng động, giao lưu mạnh thì tác phẩm ra lò dễ có điều kiện đến với công chúng hơn và thu nhập của nghệ sĩ rủng rỉnh hơn. Tuy nhiên, thời đại công nghệ thông tin - internet bây giờ, chuyện khoảng cách địa lý không hẳn là điều quá quan trọng nữa rồi. Vấn đề là tác phẩm của anh làm ra có mới mẻ, giá trị đích thực hay không… Tuy nhiên, có một thực tế là nghệ sĩ ở các tỉnh nhiều khi hay có đôi nét suy nghĩ yếm thế, làm lấy có để phục vụ tại chỗ, đóng cửa khen nhau, và thế là cái sự vươn lên khẳng định có phần ít oi… Ở các tỉnh trong nươc ta bây giờ, từng lĩnh vực nghệ thuật như: sân khấu, âm nhạc, hội họa, kiến truc, văn học,… đều có những nghệ sĩ đứng chân và họ đều có những đóng góp nhất định đối với nhu cầu thưởng ngoạn của người dân địa phương. Đôi khi, sự đóng góp của họ ở trong tỉnh là khá lớn nhưng bước ra ngoài tỉnh thì ầu như chẳng ai biết về tác phẩm của họ… Thiển nghĩ, sự đóng góp tích cực, dù nhỏ dù lớn của tác phẩm nghệ thuật đều đáng quý, đáng trọng. Mỗi sắc thái văn hóa của từng địa phương, công chúng mỗi vùng đều có cái “gu” riêng trong chuyện yêu và đến với văn nghệ. Vì thế, công chúng tỉnh nào cũng rất cần những con người nghệ sĩ tại chỗ, am hiểu tận cùng vùng đất của họ để phổ hồn của đất của người nơi đó thành tác phẩm nghệ thuật. Và dù tác phẩm ấy, nơi khác không biết nhưng vẫn là tác phẩm nằm lòng của dân bản địa; thế là vui cho nghệ thuật, vui cho nghệ sĩ lắm rồi còn gì… Cũng có một thực tế khác là sự phát triển thông tin, dân trí hiện nay đã tạo nên một lớp công chúng mới, có những đòi hỏi mới về thưởng thức nghệ thuật. Thế nên, họ mặc nhiên không dùng đến những sản phẩm văn nghệ nhàng nhàng kiểu phong trào, “nghệ thuật cấp tỉnh” (như lời một số người). Sự giao thương, giao lưu sản phẩm nghệ thuật tại nhiều tỉnh bây giờ cũng đã phong phú không kém mấy các thành phố lớn, nên sự lựa chọn của công chúng đã thuận lợi hơn nhiều. Điều này dẫn đến việc một số nghệ sĩ ở tỉnh bị mất “khách hàng” ngay trên “thị phần” của mình… Tán đôi lời để thấy rằng vấn đề cốt lõi của nghệ thuật là phải tạo được hiệu ứng. Xin cho phép mong mỏi rằng nghệ sĩ tại tỉnh phải dùi mài, tạo dựng tác phẩm hay thêm nhiều để công chúng tỉnh đó thêm cơ hội “mở mày mở mặt” với thiên hạ. Những hạt nhân, những đỉnh cao văn nghệ luôn là sự kiếm tìm, trân trọng của công chúng, của nhân dân. Mong lắm thay những tài năng nghệ thuật ở các tỉnh có thể bay lên để nới rộng tầm ảnh hưởng. Đó cũng là một cách quảng bá chất văn hóa, hình ảnh của tỉnh nhà ra với nhiều người, nhiều nơi hơn nữa… Và khi nghệ sĩ có được “thương hiệu” thì mọi chuyện cũng… dễ!
Đ.Đ.T
Subscribe to:
Posts (Atom)



