Friday, December 5, 2008
Một nhân vật văn hoá độc đáo…
Phóng sự HÙNG PHIÊN
Tên tui Đỗ Như Phước / Tóc bạc trắng như cước / Dáng to béo tầm thước / Người rất thích hài hước / Thấy gì hay bắt chước / Không ham chức ham tước / Chỉ ham tích đầy phước... Mấy dòng “lý lịch trích ngang” của nhà sưu tập “thế giới” hàng đầu Việt Nam, ông “trùm” thơ độc vận và là người làm từ thiện nổi tiếng Đỗ Như Phước vừa qua đời ngày 7.11.2008 ở tuổi 72 (ông sinh năm Bính Tý-1936)…
Về Phú Yên, hỏi “ông Phước nhà thơ” thì hầu như ai cũng biết, bởi ông quá nổi tiếng với những “món chơi” độc sầu, lại thường lên ti vi để nói chuyện và đọc thơ vui. Ví như xuân rồi, mừng năm tuổi của mình, ông làm bài thơ vần “í” dài đến 50 câu nhưng công chúng đêm thơ Nguyên tiêu núi Nhạn (Tuy Hòa) đã phăng phắc lắng nghe rồi vỗ tay rần rần. Bởi có “đủ thứ chuyện” như: WTO đã ký / Hội nhập thật hợp lý / Triệu người một ý chí / Quyết nâng cao dân trí / Tháo gỡ mọi thế bí / Sản xuất vượt tiêu chí / Được thế giới chú ý / Việt Nam nâng vị trí…; đến việc Không nên say lúy túy và tranh thủ … nịnh vợ: Chớ có đi bồ nhí / Để vợ cưng vợ quý… Hay như năm con Dê (Quý Mùi) ông làm thơ “ê”: Trai gái tuổi cập kê / Tối tối ra bờ đê / Ngồi dưới gốc cây lê / Bàn chuyện… trồng cà phê…, rồi không quên “làm tư tưởng”: Ăn xong Tết con dê / Công việc chớ bỏ bê / Không kéo dài lê thê / Học thêm tiếng Ăng-lê / Lấy vi tính bằng C…
Nhiều người biết, ông Đỗ Như Phước chẳng bao giờ nghĩ mình là nhà thơ, phải khó nhọc để làm thơ, “vần vè cho vui mà”, thế nhưng dân gian cứ gọi ông là nhà thơ! Cũng như chuyện ông được “đặc cách” đọc thơ trong Đêm thơ Nguyên tiêu núi Nhạn, được công chúng hưởng ứng nhiệt thành nhưng không ít nhà làm thơ “nghệ thuật” phản đối: “Đây là sân của nghệ thuật nghiêm túc, sao để thơ “dưỡng sinh” của ông Phước chen vào?”. Ông vui vẻ: “Vậy thì thôi!”. Thế nhưng có kỳ Nguyên tiêu vắng ông, công chúng chất vấn ban tổ chức tới tấp, thế là ông trở thành một thứ “đặc sản” nghiêm túc của đêm thơ, và cũng duy nhất một mình ông không đọc thơ “nghiêm túc” trong đêm thơ Nguyên tiêu lừng danh trên núi này…
Quả thật, ông không chối thơ mình đích thị là để “dưỡng sinh” chứ đâu mong khẳng định tên tuổi; ông chỉ làm chơi “cho khỏe người” thôi, còn ai nhớ là chuyện… của họ; vậy mà thơ ông cũng thấy người ta truyền miệng đọc đầy đường… Thế nhưng không phải ai làm thơ như ông Phước cũng được người đời nhớ! Nhiều người khó tính với nghệ thuật cũng phải “bái lạy” chất dí dỏm thông minh và cái “duyên ngầm trời cho” của bút pháp Đỗ Như Phước; chẳng những “nghệ thuật hóa” loại thơ dân gian độc vận, ông còn là người đi tiên phong sáng tác loại thơ “chân lý” mà có những câu cứ tưởng của… ai: Quê tôi có một dòng sông / Mùa hè nước cạn, mùa đông lại đầy / Mặt trời mọc đông lặn tây / Cá lội dưới nước, chim bay trên trời…
Xuất phát từ cuộc chiến với ung thư, ông đã biến đời mình thành một cuộc chơi đầy ý vị và có được những thành quả… ngoài dự đoán! Mê chơi “đủ món” và lĩnh vực nào cũng có thành tựu. Suốt ngày hồn hậu nói chuyện hài hước nhưng ít ai biết được ông già 72 tuổi đã chiến đấu từng giờ với căn bệnh ung thư đeo đẳng suốt 40 năm qua (mái tóc bạc sớm cũng do việc “xạ trị” ung thư), bên mình lúc nào cũng phải gắn hậu môn nhân tạo là một bọc… chuyên dụng! Ngay cả cái “bãi đáp” này cũng được ông trào lộng: Thế giới có vệ tinh nhân tạo / Phước tui có… hậu môn nhân tạo! Ông cười hề hề và mở thắt lưng chỉ tôi xem cái “bãi đáp” của mình một cách hồn nhiên.
Ông thú thật chính việc đặt vè độc vận đã đem lại cho ông và mọi người niềm vui vô bờ bến. Phong thái hài hước cũng đã giúp ông mở lòng giao du với khắp nơi, tất cả mọi người, năm châu bốn biển. Ông kể đã có lần đọc thơ “độc vận” bằng… tiếng Nga làm cho quan khách nhiều nước ôm bụng cười “lăn lê bò toài”. Chính mối quan hệ rộng rãi này đã đưa ông đến với công việc ở Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị tỉnh Phú Khánh, rồi Phú Yên khi trở lại quê nhà. Như cá gặp nước, bản tính hồn hậu cởi mở, ham đi đó đây, ông lại như muốn thu cả thế giới về nhà mình qua các kỷ vật của tất cả các nước trên thế giới, chủ yếu là những thứ rẻ tiền như cờ, huy hiệu, kỷ niệm chương, búp bê... của các nền văn hóa trên thế giới. Nhiều nước bây giờ không còn tên trên bản đồ thế giới nhưng lại hiện hữu ở… nhà ông Đỗ Như Phước! Ky cóp 40 năm, căn nhà ông đã trở thành một bảo tàng thực thụ với trên 10.000 kỷ vật của 84 nước trên thế giới!
Đường quan chức của ông có thể thênh thang nếu “thích”, bởi ông tham gia cách mạng sớm, có trình độ, tư chất thông minh, gia đình ông có nhiều người thành đạt… Nhưng đời với ông “vui là chính, làm tới chức quan… hữu nghị chớ ít sao!” rồi về hưu mê say làm chuyện “tào lao” và lặn lội “cúi mình” đi gõ cửa vận động từ thiện. Có thể ông rất giàu nếu bán một số “chuyện chơi”, ví như ông đã lắc đầu từ chối khi một “đại gia” đặt vấn đề chuyển nhượng bộ sưu tập nồng ấm tình quốc tế này với giá trên 1 tỷ đồng! Thế nhưng ông Phước sẵn sàng tặng… Cuối năm 2007, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã “nghe danh-đánh tiếng” và ông Đỗ Như Phước đã tặng 84 huy hiệu-tranh-tượng-mô hình lưu niệm của các nước cho bảo tàng này. Thư cảm ơn của Giám đốc bảo tàng này có đoạn: “Hành động của ông Đỗ Như Phước là một nghĩa cử cao đẹp có ý nghĩa tác động sâu rộng với các tầng lớp xã hội trong vấn đề hiến tặng di sản Văn hóa cho Bảo tàng quốc gia”.
Sự nghiệp của ông bề thế như vậy nhưng khi tôi hỏi “Bác thích “thứ” nào nhất?”, ông Đỗ Như Phước vô tư: “Làm thơ con cóc”! Và năm con trâu này, ông có còn làm bài thơ vần “âu”?…
H.P
Nghệ sĩ ở tỉnh…
Đức Tuấn
Xin bớt chút thời gian cho tôi lạm bàn về chuyện địa bàn sống và sự đóng góp của nghệ sĩ. Xin hiểu đơn giản đây chỉ là đôi điều so sánh chuyện nghề, chuyện sống của nghệ sĩ ở tỉnh và nghệ sĩ tại các thành phố lớn…, so sánh trong giới hạn hiểu biết của người viết. Và làm sao để nghệ sĩ ở tỉnh vươn lên khẳng định mình với công chúng thưởng thức đang ngày càng đòi hỏi cao hơn trước. Trước hết phải nói, bản thân tác phẩm nghệ thuật có lớn hay không, chẳng có nhiều liên quan đến chuyện người nghệ sĩ sống ở tỉnh hay ở thành phố lớn. Chẳng phải với khả năng tầm tầm nhưng đến nơi đo hội là anh được biết đến. Khả năng anh đến đâu, anh chỉ thể hiện được đến đó thôi, không hơn không kém! Thế nhưng, có nhiều nghệ sĩ ở các tỉnh lại có suy nghĩ: phải đến sống ở các trung tâm văn hóa- kinh tế thì tác phẩm của mình mới có điều kiện… lớn được!? Có thể, nơi chốn năng động, giao lưu mạnh thì tác phẩm ra lò dễ có điều kiện đến với công chúng hơn và thu nhập của nghệ sĩ rủng rỉnh hơn. Tuy nhiên, thời đại công nghệ thông tin - internet bây giờ, chuyện khoảng cách địa lý không hẳn là điều quá quan trọng nữa rồi. Vấn đề là tác phẩm của anh làm ra có mới mẻ, giá trị đích thực hay không… Tuy nhiên, có một thực tế là nghệ sĩ ở các tỉnh nhiều khi hay có đôi nét suy nghĩ yếm thế, làm lấy có để phục vụ tại chỗ, đóng cửa khen nhau, và thế là cái sự vươn lên khẳng định có phần ít oi… Ở các tỉnh trong nươc ta bây giờ, từng lĩnh vực nghệ thuật như: sân khấu, âm nhạc, hội họa, kiến truc, văn học,… đều có những nghệ sĩ đứng chân và họ đều có những đóng góp nhất định đối với nhu cầu thưởng ngoạn của người dân địa phương. Đôi khi, sự đóng góp của họ ở trong tỉnh là khá lớn nhưng bước ra ngoài tỉnh thì ầu như chẳng ai biết về tác phẩm của họ… Thiển nghĩ, sự đóng góp tích cực, dù nhỏ dù lớn của tác phẩm nghệ thuật đều đáng quý, đáng trọng. Mỗi sắc thái văn hóa của từng địa phương, công chúng mỗi vùng đều có cái “gu” riêng trong chuyện yêu và đến với văn nghệ. Vì thế, công chúng tỉnh nào cũng rất cần những con người nghệ sĩ tại chỗ, am hiểu tận cùng vùng đất của họ để phổ hồn của đất của người nơi đó thành tác phẩm nghệ thuật. Và dù tác phẩm ấy, nơi khác không biết nhưng vẫn là tác phẩm nằm lòng của dân bản địa; thế là vui cho nghệ thuật, vui cho nghệ sĩ lắm rồi còn gì… Cũng có một thực tế khác là sự phát triển thông tin, dân trí hiện nay đã tạo nên một lớp công chúng mới, có những đòi hỏi mới về thưởng thức nghệ thuật. Thế nên, họ mặc nhiên không dùng đến những sản phẩm văn nghệ nhàng nhàng kiểu phong trào, “nghệ thuật cấp tỉnh” (như lời một số người). Sự giao thương, giao lưu sản phẩm nghệ thuật tại nhiều tỉnh bây giờ cũng đã phong phú không kém mấy các thành phố lớn, nên sự lựa chọn của công chúng đã thuận lợi hơn nhiều. Điều này dẫn đến việc một số nghệ sĩ ở tỉnh bị mất “khách hàng” ngay trên “thị phần” của mình… Tán đôi lời để thấy rằng vấn đề cốt lõi của nghệ thuật là phải tạo được hiệu ứng. Xin cho phép mong mỏi rằng nghệ sĩ tại tỉnh phải dùi mài, tạo dựng tác phẩm hay thêm nhiều để công chúng tỉnh đó thêm cơ hội “mở mày mở mặt” với thiên hạ. Những hạt nhân, những đỉnh cao văn nghệ luôn là sự kiếm tìm, trân trọng của công chúng, của nhân dân. Mong lắm thay những tài năng nghệ thuật ở các tỉnh có thể bay lên để nới rộng tầm ảnh hưởng. Đó cũng là một cách quảng bá chất văn hóa, hình ảnh của tỉnh nhà ra với nhiều người, nhiều nơi hơn nữa… Và khi nghệ sĩ có được “thương hiệu” thì mọi chuyện cũng… dễ!
Đ.Đ.T
Đức Tuấn
Xin bớt chút thời gian cho tôi lạm bàn về chuyện địa bàn sống và sự đóng góp của nghệ sĩ. Xin hiểu đơn giản đây chỉ là đôi điều so sánh chuyện nghề, chuyện sống của nghệ sĩ ở tỉnh và nghệ sĩ tại các thành phố lớn…, so sánh trong giới hạn hiểu biết của người viết. Và làm sao để nghệ sĩ ở tỉnh vươn lên khẳng định mình với công chúng thưởng thức đang ngày càng đòi hỏi cao hơn trước. Trước hết phải nói, bản thân tác phẩm nghệ thuật có lớn hay không, chẳng có nhiều liên quan đến chuyện người nghệ sĩ sống ở tỉnh hay ở thành phố lớn. Chẳng phải với khả năng tầm tầm nhưng đến nơi đo hội là anh được biết đến. Khả năng anh đến đâu, anh chỉ thể hiện được đến đó thôi, không hơn không kém! Thế nhưng, có nhiều nghệ sĩ ở các tỉnh lại có suy nghĩ: phải đến sống ở các trung tâm văn hóa- kinh tế thì tác phẩm của mình mới có điều kiện… lớn được!? Có thể, nơi chốn năng động, giao lưu mạnh thì tác phẩm ra lò dễ có điều kiện đến với công chúng hơn và thu nhập của nghệ sĩ rủng rỉnh hơn. Tuy nhiên, thời đại công nghệ thông tin - internet bây giờ, chuyện khoảng cách địa lý không hẳn là điều quá quan trọng nữa rồi. Vấn đề là tác phẩm của anh làm ra có mới mẻ, giá trị đích thực hay không… Tuy nhiên, có một thực tế là nghệ sĩ ở các tỉnh nhiều khi hay có đôi nét suy nghĩ yếm thế, làm lấy có để phục vụ tại chỗ, đóng cửa khen nhau, và thế là cái sự vươn lên khẳng định có phần ít oi… Ở các tỉnh trong nươc ta bây giờ, từng lĩnh vực nghệ thuật như: sân khấu, âm nhạc, hội họa, kiến truc, văn học,… đều có những nghệ sĩ đứng chân và họ đều có những đóng góp nhất định đối với nhu cầu thưởng ngoạn của người dân địa phương. Đôi khi, sự đóng góp của họ ở trong tỉnh là khá lớn nhưng bước ra ngoài tỉnh thì ầu như chẳng ai biết về tác phẩm của họ… Thiển nghĩ, sự đóng góp tích cực, dù nhỏ dù lớn của tác phẩm nghệ thuật đều đáng quý, đáng trọng. Mỗi sắc thái văn hóa của từng địa phương, công chúng mỗi vùng đều có cái “gu” riêng trong chuyện yêu và đến với văn nghệ. Vì thế, công chúng tỉnh nào cũng rất cần những con người nghệ sĩ tại chỗ, am hiểu tận cùng vùng đất của họ để phổ hồn của đất của người nơi đó thành tác phẩm nghệ thuật. Và dù tác phẩm ấy, nơi khác không biết nhưng vẫn là tác phẩm nằm lòng của dân bản địa; thế là vui cho nghệ thuật, vui cho nghệ sĩ lắm rồi còn gì… Cũng có một thực tế khác là sự phát triển thông tin, dân trí hiện nay đã tạo nên một lớp công chúng mới, có những đòi hỏi mới về thưởng thức nghệ thuật. Thế nên, họ mặc nhiên không dùng đến những sản phẩm văn nghệ nhàng nhàng kiểu phong trào, “nghệ thuật cấp tỉnh” (như lời một số người). Sự giao thương, giao lưu sản phẩm nghệ thuật tại nhiều tỉnh bây giờ cũng đã phong phú không kém mấy các thành phố lớn, nên sự lựa chọn của công chúng đã thuận lợi hơn nhiều. Điều này dẫn đến việc một số nghệ sĩ ở tỉnh bị mất “khách hàng” ngay trên “thị phần” của mình… Tán đôi lời để thấy rằng vấn đề cốt lõi của nghệ thuật là phải tạo được hiệu ứng. Xin cho phép mong mỏi rằng nghệ sĩ tại tỉnh phải dùi mài, tạo dựng tác phẩm hay thêm nhiều để công chúng tỉnh đó thêm cơ hội “mở mày mở mặt” với thiên hạ. Những hạt nhân, những đỉnh cao văn nghệ luôn là sự kiếm tìm, trân trọng của công chúng, của nhân dân. Mong lắm thay những tài năng nghệ thuật ở các tỉnh có thể bay lên để nới rộng tầm ảnh hưởng. Đó cũng là một cách quảng bá chất văn hóa, hình ảnh của tỉnh nhà ra với nhiều người, nhiều nơi hơn nữa… Và khi nghệ sĩ có được “thương hiệu” thì mọi chuyện cũng… dễ!
Đ.Đ.T
Thursday, December 4, 2008
CÂY LỘC VỪNG
TRƯỚC NẠN SĂN CÂY CẢNH
Mạnh Minh Tâm
Cây lộc vừng ở Phú Yên mọc ven sông suối, ao hồ, ruộng rộc. Cây mọc thành rừng, nhiều nhất là ở các huyện miền núi Đồng Xuân, Sông Hinh, Sơn Hoà và huyện Tuy Hoà. Mỗi năm, một mùa cây đơm bông kết trái, trái khô tách hạt cuốn theo dòng nước tấp mọc dọc bờ sông suối để duy trì sự trường tồn của một loài cây. Hiện tại có cây đã sống qua hàng trăm tuổi. Lộc vừng có đặc tính sinh sống và phát triển trong môi trường nước. Cây có vỏ dày, sần sui, gân guốc tạo nên dáng thế một cây cảnh đẹp rất tự nhiên. Dân chơi cây cảnh xếp nó vào bộ tam đa: PHỨỚC - LỘC - THỌ tương ứng với ba loại cây: Sung- lộc vừng- vạn tuế.
Ngày xưa, người ta dùng vỏ cây lộc vừng sắc lấy nước, có màu nâu sậm để nhuộm quần áo, chài lưới; đọt non (lá) hái ăn sống với mắm muối. Người dân thường dùng một mảnh vỏ cây với một nắm lá bánh tẻ của lộc vừng thái nhỏ sao vàng, khử thổ sắc lấy một bát nước uống dùng chữa bệnh kiết lỵ.
Đặc biệt vào mùa hè, lộc vừng ra hoa rất đẹp, hoa kết nụ từng chuỗi dài (5-7 tấc) tủa quanh thân cây. Khi hoa nở dọc sông suối rực lên màu tím xác pháo như những chuỗi lan ngọc điểm đong đưa soi bóng nước, tạo nên khung cảnh thơ mộng, điểm tô cho những vùng quê thanh bình yên ả. Cái đẹp của hoa lộc vừng thật quyến rủ. Ai đã ngắm hoa nở là muốn bứng gốc về trồng ở sân vườn nhà mình. Chính vì thế trong những năm qua, dân chơi cây cảnh trong và ngoài tỉnh đã để mắt tìm cách khai thác đến loài “đặc sản” của Phú Yên. Nơi có tiềm năng lộc vừng dồi dào, không phải nơi nào cũng có.
Đi dọc quốc lộ 1 từ Chí thạnh – Tuy An đến Hoà Xuân nam –Đông Hoà hai bên đường mọc lên nhan nhản những vườn ươm lộc vừng vừa khai thác từ các sông suối trong tỉnh. Có vườn đang ươm trồng những cây to cao, có hàng trăm tuổi, nặng cả tấn. Những vườn ươm này đang bón thúc cho cây bén rễ, đâm chồi để chờ xuất đi các thị trường: Hà Nội, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang… Anh Dâng, một nghệ nhân chuyên nghiệp cây cảnh ở phường 8 cho biết: “Lộc vừng Phú Yên đang được thị trường cây cảnh ưa chuộng, nhất là các tỉnh phía Bắc. Từ một vài chuyến cây xuất tỉnh vào đầu năm 2003, hiện nay chúng tôi nhận đơn đặt hàng liên tục. Đây là một loại cây cảnh sang trọng, quý hiếm; các nơi không có lộc vừng, họ mua về tôn tạo cảnh quan cho các khu du lịch sinh thái, công sở, nhà hàng, khách sạn. Vào dịp tết, giới thượng lưu, chỉ cần có một cây lộc vừng trong nhà, lặt lá trước tết 10-15 ngày – đúng vào tối 30, sáng mùng một tết cây sẽ rựng lên những lộc non mơn mởn là đủ để chúc phúc tài lộc cho một năm mới thì không gì bằng”. Vì vậy, lộc vừng rất có giá; cây nhỏ độ bằng bắp vế, cổ chân đã có tiền triệu; Cây to đại thụ cõ 5-7 triệu đồng/cây là chuyện thường. Ông Dâng mới xuất hai xe tải cây lộc vừng đi Hà Nội, mỗi xe 15-20 cây, đợt cây mới lấy từ Đồng Xuân về còn trơ gốc rễ, chất lên xe như củi, vậy mà trừ chi phí ông cũng kiếm được trên 10 triệu đồng. Tôi hỏi còn những cây trồng trong vườn lún phún những chồi non kia cỡ bao nhiêu? Ông cho biết: “Tuỳ to, nhỏ, dáng thế khi đã tạo cho cây đạt hình thái nghệ thuật mà định giá nhưng phải từ 3-5 triệu đồng/cây”. Về hoá Xuân Nam gặp anh Bính đang ươm trồng trước sân 15 cây lộc vừng, anh phân giải: “Cây lộc vừng khi đã ươm trồng sống rồi thì mau thấy bạc triệu, nhưng không phải dễ ăn như nhiều người tưởng; tìm được cây ra dáng thế đã khó, ươm trồng cho cây sống càng khó hơn. Để đào được một cây to cao nặng hàng tạ phải có ít nhất ba người, gặp chỗ không có đường vận chuyển hoặc cây to nặng không khiêng nổi phải mướn xe cẩu tới kéo, chi phí đó cũng phải mất 3 đến 5 trăm ngàn đồng/cây. Về trồng cây sống thì khỏi phải nói, còn lỡ cây chết thì tiếc đến bứt đầu, bứt tai; tai nạn hơn nếu gặp kiểm lâm thì coi như mất trắng”.
Như vậy là đã rõ, dạo này đi đâu cũng thấy dân cây cảnh đổ xô “săn lùng” lộc vừng. Những cây lộc vừng đại thụ bên con sông, bến nước đầy ắp kỷ niệm tuổi thơ cắt cỏ chăn bò, giờ tự nhiên biến mất. Rừng lộc vừng dọc sông ven suối ở Phú Sơn, Thác Dài - Suối Cối, Kỳ Lộ- Xuân Quang huyện Đồng Xuân đang bị đào phá nham nhở. Dân chuyên nghiệp chơi cây cảnh biết cách đào, cách trồng, có hàng có mối bán mua thì cây lộc vừng còn có cơ hội tái sinh nơi phồn hoa, đô thị. Khổ nỗi gặp dân quê “Thấy nẫu ăn khoai vác mai chạy quấy”, cứ thấy cây là đào, không biết chăm sóc - số cây này thường bị chết quá nửa, còn cây nào trồng sống thì không biết bán ở đâu? Theo đà này vài năm tới cây lộc vừng ở Phú Yên có nguy cơ bị khai phá cạn kiệt!
Cũng như cây rừng, cây lộc vừng là một chủng loại của tài nguyên rừng. Để có được thiên nhiên đã tạo lập từ hàng trăm, thậm chí hàng thiên niên kỷ nay. Về giá trị kinh tế lộc vừng được coi như một loại cây cảnh quý hiếm, giống như các loài gỗ quý cần được bảo tồn. Những người am hiểu còn ví lộc vừng như những luỹ tre bám đất giữ làng; loài cây tự nhiên nhưng góp phần kiến tạo cảnh quan môi trường, làm xanh đẹp quê hương, giữ đất và nước, sông suối, ao hồ, chống xói mòn đất đai. Do đó, cây lộc vừng cần được quản lý, khai thác, hưởng lợi theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Tình trạng khai thác và kinh doanh cây lộc vừng một cách bừa bãi như hiện nay phải sớm ngăn chặn, xử lý nghiêm như hành vi khai thác rừng trái phép./.
TRƯỚC NẠN SĂN CÂY CẢNH
Mạnh Minh Tâm
Cây lộc vừng ở Phú Yên mọc ven sông suối, ao hồ, ruộng rộc. Cây mọc thành rừng, nhiều nhất là ở các huyện miền núi Đồng Xuân, Sông Hinh, Sơn Hoà và huyện Tuy Hoà. Mỗi năm, một mùa cây đơm bông kết trái, trái khô tách hạt cuốn theo dòng nước tấp mọc dọc bờ sông suối để duy trì sự trường tồn của một loài cây. Hiện tại có cây đã sống qua hàng trăm tuổi. Lộc vừng có đặc tính sinh sống và phát triển trong môi trường nước. Cây có vỏ dày, sần sui, gân guốc tạo nên dáng thế một cây cảnh đẹp rất tự nhiên. Dân chơi cây cảnh xếp nó vào bộ tam đa: PHỨỚC - LỘC - THỌ tương ứng với ba loại cây: Sung- lộc vừng- vạn tuế.
Ngày xưa, người ta dùng vỏ cây lộc vừng sắc lấy nước, có màu nâu sậm để nhuộm quần áo, chài lưới; đọt non (lá) hái ăn sống với mắm muối. Người dân thường dùng một mảnh vỏ cây với một nắm lá bánh tẻ của lộc vừng thái nhỏ sao vàng, khử thổ sắc lấy một bát nước uống dùng chữa bệnh kiết lỵ.
Đặc biệt vào mùa hè, lộc vừng ra hoa rất đẹp, hoa kết nụ từng chuỗi dài (5-7 tấc) tủa quanh thân cây. Khi hoa nở dọc sông suối rực lên màu tím xác pháo như những chuỗi lan ngọc điểm đong đưa soi bóng nước, tạo nên khung cảnh thơ mộng, điểm tô cho những vùng quê thanh bình yên ả. Cái đẹp của hoa lộc vừng thật quyến rủ. Ai đã ngắm hoa nở là muốn bứng gốc về trồng ở sân vườn nhà mình. Chính vì thế trong những năm qua, dân chơi cây cảnh trong và ngoài tỉnh đã để mắt tìm cách khai thác đến loài “đặc sản” của Phú Yên. Nơi có tiềm năng lộc vừng dồi dào, không phải nơi nào cũng có.
Đi dọc quốc lộ 1 từ Chí thạnh – Tuy An đến Hoà Xuân nam –Đông Hoà hai bên đường mọc lên nhan nhản những vườn ươm lộc vừng vừa khai thác từ các sông suối trong tỉnh. Có vườn đang ươm trồng những cây to cao, có hàng trăm tuổi, nặng cả tấn. Những vườn ươm này đang bón thúc cho cây bén rễ, đâm chồi để chờ xuất đi các thị trường: Hà Nội, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang… Anh Dâng, một nghệ nhân chuyên nghiệp cây cảnh ở phường 8 cho biết: “Lộc vừng Phú Yên đang được thị trường cây cảnh ưa chuộng, nhất là các tỉnh phía Bắc. Từ một vài chuyến cây xuất tỉnh vào đầu năm 2003, hiện nay chúng tôi nhận đơn đặt hàng liên tục. Đây là một loại cây cảnh sang trọng, quý hiếm; các nơi không có lộc vừng, họ mua về tôn tạo cảnh quan cho các khu du lịch sinh thái, công sở, nhà hàng, khách sạn. Vào dịp tết, giới thượng lưu, chỉ cần có một cây lộc vừng trong nhà, lặt lá trước tết 10-15 ngày – đúng vào tối 30, sáng mùng một tết cây sẽ rựng lên những lộc non mơn mởn là đủ để chúc phúc tài lộc cho một năm mới thì không gì bằng”. Vì vậy, lộc vừng rất có giá; cây nhỏ độ bằng bắp vế, cổ chân đã có tiền triệu; Cây to đại thụ cõ 5-7 triệu đồng/cây là chuyện thường. Ông Dâng mới xuất hai xe tải cây lộc vừng đi Hà Nội, mỗi xe 15-20 cây, đợt cây mới lấy từ Đồng Xuân về còn trơ gốc rễ, chất lên xe như củi, vậy mà trừ chi phí ông cũng kiếm được trên 10 triệu đồng. Tôi hỏi còn những cây trồng trong vườn lún phún những chồi non kia cỡ bao nhiêu? Ông cho biết: “Tuỳ to, nhỏ, dáng thế khi đã tạo cho cây đạt hình thái nghệ thuật mà định giá nhưng phải từ 3-5 triệu đồng/cây”. Về hoá Xuân Nam gặp anh Bính đang ươm trồng trước sân 15 cây lộc vừng, anh phân giải: “Cây lộc vừng khi đã ươm trồng sống rồi thì mau thấy bạc triệu, nhưng không phải dễ ăn như nhiều người tưởng; tìm được cây ra dáng thế đã khó, ươm trồng cho cây sống càng khó hơn. Để đào được một cây to cao nặng hàng tạ phải có ít nhất ba người, gặp chỗ không có đường vận chuyển hoặc cây to nặng không khiêng nổi phải mướn xe cẩu tới kéo, chi phí đó cũng phải mất 3 đến 5 trăm ngàn đồng/cây. Về trồng cây sống thì khỏi phải nói, còn lỡ cây chết thì tiếc đến bứt đầu, bứt tai; tai nạn hơn nếu gặp kiểm lâm thì coi như mất trắng”.
Như vậy là đã rõ, dạo này đi đâu cũng thấy dân cây cảnh đổ xô “săn lùng” lộc vừng. Những cây lộc vừng đại thụ bên con sông, bến nước đầy ắp kỷ niệm tuổi thơ cắt cỏ chăn bò, giờ tự nhiên biến mất. Rừng lộc vừng dọc sông ven suối ở Phú Sơn, Thác Dài - Suối Cối, Kỳ Lộ- Xuân Quang huyện Đồng Xuân đang bị đào phá nham nhở. Dân chuyên nghiệp chơi cây cảnh biết cách đào, cách trồng, có hàng có mối bán mua thì cây lộc vừng còn có cơ hội tái sinh nơi phồn hoa, đô thị. Khổ nỗi gặp dân quê “Thấy nẫu ăn khoai vác mai chạy quấy”, cứ thấy cây là đào, không biết chăm sóc - số cây này thường bị chết quá nửa, còn cây nào trồng sống thì không biết bán ở đâu? Theo đà này vài năm tới cây lộc vừng ở Phú Yên có nguy cơ bị khai phá cạn kiệt!
Cũng như cây rừng, cây lộc vừng là một chủng loại của tài nguyên rừng. Để có được thiên nhiên đã tạo lập từ hàng trăm, thậm chí hàng thiên niên kỷ nay. Về giá trị kinh tế lộc vừng được coi như một loại cây cảnh quý hiếm, giống như các loài gỗ quý cần được bảo tồn. Những người am hiểu còn ví lộc vừng như những luỹ tre bám đất giữ làng; loài cây tự nhiên nhưng góp phần kiến tạo cảnh quan môi trường, làm xanh đẹp quê hương, giữ đất và nước, sông suối, ao hồ, chống xói mòn đất đai. Do đó, cây lộc vừng cần được quản lý, khai thác, hưởng lợi theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Tình trạng khai thác và kinh doanh cây lộc vừng một cách bừa bãi như hiện nay phải sớm ngăn chặn, xử lý nghiêm như hành vi khai thác rừng trái phép./.
CÒN ĐÂU NHỮNG MẺ CÁ ĐỒNG
Mạnh Minh Tâm
Lũ xuống, nước rọt, mấy ngày nay cha con ông Sáu Kho “dầm mình” kéo trủ. Từ hôm cánh đồng Ninh Tịnh (phường 9) nước rặt xuống khỏi lưng quần, ngày nào cha con ông và con dâu cũng ra đồng từ tờ mờ sáng cho đến lúc đỏ đèn mới về nhà. Tấm lưới trủ nhà ông gần 30 sải tay, trên 50m cào kéo một mùa, giờ đã đến lúc bung vành. Lời lãi từ những mẻ cá đồng, ông dư sức mua tấm trủ mới. Ông nói ngày đầu xuống nước, một nhát trủ giăng ra, kéo khoảng 100m thường cũng kiếm được 5 đến 7 ký cá rô, sặc, cá trắng vừa “nức mắt”…Giờ nước cạn dưới ống chân, một mẻ kéo trủ chỉ hơn 1 ký. Mờ sáng đến trưa được khoảng 10 ký cá, bạn hàng đang chờ trên bờ, lấy cá bỏ chợ, 3 lạng 5000đồng, vị chi buổi sáng nay tôi có trên 150.000 đồng. Chịu lạnh kéo trủ, ngày có gần 200 -300 ngàn đồng, đỡ khổ.
Biết rằng cào bắt những lứa cá con bằng đầu mút đũa, chưa lớn kịp, thấy tiếc, nhưng biết làm sao được. Quanh đây có hàng chục người đi kéo trủ, chứ đâu chỉ riêng mình, ngồi chờ cho cá lớn, có lẽ không đến lượt mình. Già Sung năm nay đã 80 tuổi, ở Ninh Tịnh, phường 9 , ông sống ở đây từ thuở lập làng, kể rằng: “Ngày xưa sau mùa nước nổi, cánh đồng Ninh Tịnh từ Bầu sen cho đến phường Chiếu, cá ơi là cá! Một tháng sau mùa lũ lụt, cá đồng ở đây trở thành nguồn thực phẩm hàng tấn, đánh bắt đến tết cũng chưa hết, nuôi sống dân làng cả tháng trời. Nay đánh bắt theo kiểu huỷ diệt kéo trủ, châm điện những con cá non nớt, chết tức tưởi, không kịp, lớn tiếc quá mà hổng biết làm sao”.
Những nhát kéo trủ không chừa một thứ gì, từ con ốc hút, ốc bươu, cá rô hạt bí, cá sặc, tôm tép non nớt…bị lưới trủ ngược xuôi càn quét là nguy cơ huỷ diệt các loài thuỷ sinh nước ngọt. Mai này có lẽ đồng ruộng, ao hồ chỉ còn bùn đất…và nước./.
Mạnh Minh Tâm
Lũ xuống, nước rọt, mấy ngày nay cha con ông Sáu Kho “dầm mình” kéo trủ. Từ hôm cánh đồng Ninh Tịnh (phường 9) nước rặt xuống khỏi lưng quần, ngày nào cha con ông và con dâu cũng ra đồng từ tờ mờ sáng cho đến lúc đỏ đèn mới về nhà. Tấm lưới trủ nhà ông gần 30 sải tay, trên 50m cào kéo một mùa, giờ đã đến lúc bung vành. Lời lãi từ những mẻ cá đồng, ông dư sức mua tấm trủ mới. Ông nói ngày đầu xuống nước, một nhát trủ giăng ra, kéo khoảng 100m thường cũng kiếm được 5 đến 7 ký cá rô, sặc, cá trắng vừa “nức mắt”…Giờ nước cạn dưới ống chân, một mẻ kéo trủ chỉ hơn 1 ký. Mờ sáng đến trưa được khoảng 10 ký cá, bạn hàng đang chờ trên bờ, lấy cá bỏ chợ, 3 lạng 5000đồng, vị chi buổi sáng nay tôi có trên 150.000 đồng. Chịu lạnh kéo trủ, ngày có gần 200 -300 ngàn đồng, đỡ khổ.
Biết rằng cào bắt những lứa cá con bằng đầu mút đũa, chưa lớn kịp, thấy tiếc, nhưng biết làm sao được. Quanh đây có hàng chục người đi kéo trủ, chứ đâu chỉ riêng mình, ngồi chờ cho cá lớn, có lẽ không đến lượt mình. Già Sung năm nay đã 80 tuổi, ở Ninh Tịnh, phường 9 , ông sống ở đây từ thuở lập làng, kể rằng: “Ngày xưa sau mùa nước nổi, cánh đồng Ninh Tịnh từ Bầu sen cho đến phường Chiếu, cá ơi là cá! Một tháng sau mùa lũ lụt, cá đồng ở đây trở thành nguồn thực phẩm hàng tấn, đánh bắt đến tết cũng chưa hết, nuôi sống dân làng cả tháng trời. Nay đánh bắt theo kiểu huỷ diệt kéo trủ, châm điện những con cá non nớt, chết tức tưởi, không kịp, lớn tiếc quá mà hổng biết làm sao”.
Những nhát kéo trủ không chừa một thứ gì, từ con ốc hút, ốc bươu, cá rô hạt bí, cá sặc, tôm tép non nớt…bị lưới trủ ngược xuôi càn quét là nguy cơ huỷ diệt các loài thuỷ sinh nước ngọt. Mai này có lẽ đồng ruộng, ao hồ chỉ còn bùn đất…và nước./.
Subscribe to:
Posts (Atom)



