Văn hóa Giao thông
Tôi hay mắc chứng đãng trí nên khi đi xe máy thường quên gạt chân chống, xe đi dêm ngày quen tắt đèn... Cứ vậy, mỗi lần xách xe ra phố tôi phải làm phiền và mang ơn các khách bộ hành. Hôm thì nhờ một cháu học sinh đi cùng chiều áp xe nhắc: "Chú ơi gạt chân chống, bữa thì nhờ xe đi ngược chiều ra hiệu xe đèn sáng hoặc chưa tắt đèn xi- nhan. Người đi cùng chiều may ra còn nói vói theo lời cảm ơn, xe ngược chiều chưa kịp mở miệng, xe hộ đã vụt qua biến mất. Hàng chục và có lẽ đến hàng trăm lần như vậy tôi phải mang ơn những người đi đường tốt bụng. Tôi cứ thầm cảm ơn và mong rằng Thành pphố Tuy Hòa mình ngày càng có thêm nhiều người tốt như vậy, tốt đến từng chi tiết nhỏ đã từng làm cho tôi vui sướng, xúc động không nói được thành lời.
Saturday, October 18, 2008
TIẾNG KHÓC
Monday, October 13, 2008
DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ NHÀ LỚN
VÀ NHỮNG TẬP TỤC KỲ LẠ
Mạnh Minh Tâm
Trong chuyến tham quan ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được về khu di tích Nhà Lớn thuộc xã Long Sơn, huyện Long Đất nằm phía Tây thành phố Vũng Tàu. Di tích là một quần thể kiến trúc đồ sộ, bằng vật liệu gỗ, nhà cửa lâu đài trông nguy nga, chập chùng được xây dựng từ những năm 1910-1927, trên một khuôn đất rộng hơn 02 ha. Di tích Nhà Lớn được Bộ Văn hoá –Thông tin công nhận là di tích Lịch sử- văn hoá Quốc gia vào năm 1991.
Vừa đặt chân vào Nhà lớn, đoàn chúng tôi hết sức ngỡ ngàng trước một công trình quy mô hoàng tráng chưa từng thấy mà chủ nhân của nó là những người phụ nữ - xưng gọi nhau là “cô hai, cô ba” quản lý.
NGƯỜI SÁNG LẬP DI TÍCH NHÀ LỚN
Chuyện có thể tóm tắt như thế này, người lập nên di tích là ông Lê Văn Mưu, sinh năm 1856; gốc gác ở tỉnh Kiên Giang; từ thuở thiếu niên ông đã theo các Thủ lĩnh Nghĩa quân chống Pháp. Sau những cuộc khởi nghĩa thất bại (1867-1873), để tránh sự truy nã gắt gao của thực dân Pháp, năm 1900 ông đã đưa gia đình lánh nạn về đây; khai khẩn vùng đất phía đông Núi Nứa, lập nên ấp Long Sơn Hội ngày nay.
Long Sơn Hội ngày xưa vốn là một vùng đất hoang vu, trên là rừng già, dưới là rừng đước, địa thế hiểm trở nhưng với quyết tâm của những lưu dân có chí lớn; qua bao tháng ngày lao động miệt mài, cần mẫn ông Mưu cùng những người thân quyến đã chinh phục vùng đất khắc nghiệt này trở thành những ruộng lúa phì nhiêu màu mỡ. Tiếng lành đồn xa, người tứ xứ quy tụ về đây ngày một đông. Để ổn định cuộc sống cho những cư dân lưu lạc, mới đến ông Mưu chia nhà cho họ ở, chia đất cho họ cày. Ông tổ chức cho làng làm thuỷ nông, xây chợ, cất trường học, mời thầy giáo về dạy chữ cho con em nơi đây. Khi cuộc sống đã có của ăn, của để ông Mưu đã huy động mọi nguồn tài chính xây dựng quần thể kiến trúc Nhà lớn với những Lầu Cấm, Lầu Phật, Lầu Dài…làm nơi thờ tự các đấng Tiền hiền, cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cho gia tộc và dân làng ấp, xã.
Sinh thời Lê Văn Mưu thường dạy con cháu và những người theo ông lập nghiệp: “Tu không để thành tiên, thành phật mà thành người”. Ông cũng không truyền bá hay viết kinh kệ gì mà chỉ dạy mọi người “ăn hiền, ở lành - ăn ngay, nói thẳng, việc phải thì làm, việc quấy thì chừa, việc gì Nhà nước cấm thì đừng”. Noi gương ông, người dân Long Sơn rất trọng Trung-Hiếu-Nghĩa-Nhân. Khi ông Mưu qua đời, để tưởng nhớ công đức của ông và bày tỏ lòng kính trọng, người dân xã đảo Long Sơn đã tránh gọi tên huý mà gọi là ông Nhà Lớn. Cũng từ đây những sinh hoạt văn hoá thường ngày và những bài học làm người vẫn được người dân truyền miệng, gìn giữ và phát huy đã hình thành một tín ngưỡng dân gian: Đạo ông Trần. Hiện xã đảo Long Sơ có 12 ngàn dân, đã có 10 ngàn người theo Đạo Ông Trần.
NHỮNG QUAN NIỆM SỐNG VÀ NHỮNG TẬP TỤC KỲ LẠ
Khác với những di tích, chùa chiền trong Nam, ngoài Bắc mà tôi đã đi qua. Đến với di tích Nhà Lớn chúng ta không hề thấy bóng dáng các kiểu hành nghề mê tín dị đoan (xin xăm, bói quẻ, tử vi, đồng bóng…). Đi qua các bàn thờ tự, không thấy các hòm công đức, cúng dường Tam bảo. Việc đốt vàng mã, hay đốt nhang khấn vái cầu phúc, cầu danh cũng là điều cấm kỵ. Các đoàn tham quan dù hàng trăm người, Ban quản lý yêu cầu chỉ một người đại diện thắp một nén nhang tưởng niệm tại bàn thờ ông Nhà Lớn là đủ. Như vậy, tránh được môi trường ngột ngạt khói hương, vừa đảm bảo công tác phòng cháy chữa cháy cho các toà nhà kiến trúc toàn gỗ. Song đáng chú ý hơn cả, có lẽ Long Sơn là địa phương duy nhất còn duy trì những tập tục kỳ lạ, ngững tập tục xem ra khác thường nhưng thiết thực và tiết kiệm, phù hợp với yêu cầu xây dựng nếp sống văn hoá hiện nay.
Về đám tang, đạo Ông Trần quy định, khi có người qua đời phải được chôn cất trong vòng 24 tiếng đồng hồ; không phải coi ngày giờ kiết- hung. Thực hiện “sáng tử, chiều táng - chiều tử sáng táng”, khi táng là xả tang ngay tại mộ. Gia chủ cũng đặc biệt không nhận tiền phúng điếu, điều này cũng đồng nghĩa với việc không có chuyện lợi dụng xác chết để trục lợi; phá vỡ tục lệ tang chế 3 năm, thực hành chính sách tiết kiệm trong ma chay, giỗ chạp, cưới xin nhằm mục đích không gây phiền hà, tốn kém trong cuộc sống hàng ngày cho người dân xã đảo.
Việc khác thường nữa là phần lớn người dân Long Sơn không an táng người chết theo kiểu tẩm liệm bằng quan tài mà sử dụng một áo quan đặc biệt gọi là bao quan. Bao quan được cấu tạo như chiếc quan tài, gồm một tấm ván bằng gỗ có nắp chụp với một khung gỗ bện bằng tre. Người chết được tẩm liệm bằng cách bó vải, sau đặt vào bao quan và khiêng ra nghĩa trang. Đến nơi nắp bao quan được mở ra, xác chết đưa xuống huyệt bằng những sợi vải trắng vắt ngang và việc xả tang được thực hiện ngay sau đó. Người dân Long Sơn cho rằng, an táng như thế này trước hết là tiết kiệm gỗ, chi phí cho thân nhân; sau thể hiện sự bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng, theo nghĩa “Sống đồng tịch đồng sàng-chết đồng quan đồng quách”.
Đám cưới ở Long Sơn cũng không phải coi ngày giờ. Việc hành lễ cũng được ấn định trong hai ngày: mùng một và mười sáu âm lịch hàng tháng. Cũng như đám tang, đám cưới là việc lớn của gia đình cần có sự chung tay góp sức của cả cộng đồng nên mọi người chung tay lo giúp, tương trợ lẫn nhau không phải trả công. Đặc biệt việc lễ không tổ chức linh đình, vật phẩm cúng kính, thết đãi thường là vật phẩm ngọt dẻo, chè xôi và trái cây. Tập tục này đang duy trì và phát huy nên các hủ tục lãng phí, xin xăm, lắc số, tử vi, đồng bóng…Nói chung là tệ mê tín dị đoan không còn đất sống tại đây.
Trang phục thường ngày của người dân Long Sơn là bộ Bà ba đen, chân không mang dép trông đậm tính Nam bộ thời xưa. Theo các vị kỳ lão trong Nhà Lớn- lối trang phục này là biểu hiện của con người giữ nguyên bổn, đề cao tính kiên trung, nghĩa khí “Đầu đội trời, chân đạp đất” và sâu xa hơn bộ bà ba rất tiện dụng trong lao động sản xuất của dân nghèo.
Ngoài những tập tục khác thường, di tích Nhà Lớn còn đựơc ví như viên ngọc quý vùng núi Nứa. Đó là một di tích bằng gỗ đồ sộ nhất nước; nơi có có chiếc áo quan có tuổi thọ và an táng người chết nhất nước; nơi có tập tục ma chay, cưới hỏi tiết kiệm nhất nước; di tích duy nhất trong cả nước có chương trình Cây Mùa Xuân tặng quà cho học sing nghèo hiếu học, ủng hộ đồng bào bị thiên tai dịch bệnh. Di tích duy nhất trong nước phục vụ miễn phí mua vé vào cửa; khách tham quan có nhu cầu ăn, ngủ được Nhà Lớn bố trí, phục vụ tận tình không phải tốn tiền./.
VÀ NHỮNG TẬP TỤC KỲ LẠ
Mạnh Minh Tâm
Trong chuyến tham quan ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được về khu di tích Nhà Lớn thuộc xã Long Sơn, huyện Long Đất nằm phía Tây thành phố Vũng Tàu. Di tích là một quần thể kiến trúc đồ sộ, bằng vật liệu gỗ, nhà cửa lâu đài trông nguy nga, chập chùng được xây dựng từ những năm 1910-1927, trên một khuôn đất rộng hơn 02 ha. Di tích Nhà Lớn được Bộ Văn hoá –Thông tin công nhận là di tích Lịch sử- văn hoá Quốc gia vào năm 1991.
Vừa đặt chân vào Nhà lớn, đoàn chúng tôi hết sức ngỡ ngàng trước một công trình quy mô hoàng tráng chưa từng thấy mà chủ nhân của nó là những người phụ nữ - xưng gọi nhau là “cô hai, cô ba” quản lý.
NGƯỜI SÁNG LẬP DI TÍCH NHÀ LỚN
Chuyện có thể tóm tắt như thế này, người lập nên di tích là ông Lê Văn Mưu, sinh năm 1856; gốc gác ở tỉnh Kiên Giang; từ thuở thiếu niên ông đã theo các Thủ lĩnh Nghĩa quân chống Pháp. Sau những cuộc khởi nghĩa thất bại (1867-1873), để tránh sự truy nã gắt gao của thực dân Pháp, năm 1900 ông đã đưa gia đình lánh nạn về đây; khai khẩn vùng đất phía đông Núi Nứa, lập nên ấp Long Sơn Hội ngày nay.
Long Sơn Hội ngày xưa vốn là một vùng đất hoang vu, trên là rừng già, dưới là rừng đước, địa thế hiểm trở nhưng với quyết tâm của những lưu dân có chí lớn; qua bao tháng ngày lao động miệt mài, cần mẫn ông Mưu cùng những người thân quyến đã chinh phục vùng đất khắc nghiệt này trở thành những ruộng lúa phì nhiêu màu mỡ. Tiếng lành đồn xa, người tứ xứ quy tụ về đây ngày một đông. Để ổn định cuộc sống cho những cư dân lưu lạc, mới đến ông Mưu chia nhà cho họ ở, chia đất cho họ cày. Ông tổ chức cho làng làm thuỷ nông, xây chợ, cất trường học, mời thầy giáo về dạy chữ cho con em nơi đây. Khi cuộc sống đã có của ăn, của để ông Mưu đã huy động mọi nguồn tài chính xây dựng quần thể kiến trúc Nhà lớn với những Lầu Cấm, Lầu Phật, Lầu Dài…làm nơi thờ tự các đấng Tiền hiền, cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cho gia tộc và dân làng ấp, xã.
Sinh thời Lê Văn Mưu thường dạy con cháu và những người theo ông lập nghiệp: “Tu không để thành tiên, thành phật mà thành người”. Ông cũng không truyền bá hay viết kinh kệ gì mà chỉ dạy mọi người “ăn hiền, ở lành - ăn ngay, nói thẳng, việc phải thì làm, việc quấy thì chừa, việc gì Nhà nước cấm thì đừng”. Noi gương ông, người dân Long Sơn rất trọng Trung-Hiếu-Nghĩa-Nhân. Khi ông Mưu qua đời, để tưởng nhớ công đức của ông và bày tỏ lòng kính trọng, người dân xã đảo Long Sơn đã tránh gọi tên huý mà gọi là ông Nhà Lớn. Cũng từ đây những sinh hoạt văn hoá thường ngày và những bài học làm người vẫn được người dân truyền miệng, gìn giữ và phát huy đã hình thành một tín ngưỡng dân gian: Đạo ông Trần. Hiện xã đảo Long Sơ có 12 ngàn dân, đã có 10 ngàn người theo Đạo Ông Trần.
NHỮNG QUAN NIỆM SỐNG VÀ NHỮNG TẬP TỤC KỲ LẠ
Khác với những di tích, chùa chiền trong Nam, ngoài Bắc mà tôi đã đi qua. Đến với di tích Nhà Lớn chúng ta không hề thấy bóng dáng các kiểu hành nghề mê tín dị đoan (xin xăm, bói quẻ, tử vi, đồng bóng…). Đi qua các bàn thờ tự, không thấy các hòm công đức, cúng dường Tam bảo. Việc đốt vàng mã, hay đốt nhang khấn vái cầu phúc, cầu danh cũng là điều cấm kỵ. Các đoàn tham quan dù hàng trăm người, Ban quản lý yêu cầu chỉ một người đại diện thắp một nén nhang tưởng niệm tại bàn thờ ông Nhà Lớn là đủ. Như vậy, tránh được môi trường ngột ngạt khói hương, vừa đảm bảo công tác phòng cháy chữa cháy cho các toà nhà kiến trúc toàn gỗ. Song đáng chú ý hơn cả, có lẽ Long Sơn là địa phương duy nhất còn duy trì những tập tục kỳ lạ, ngững tập tục xem ra khác thường nhưng thiết thực và tiết kiệm, phù hợp với yêu cầu xây dựng nếp sống văn hoá hiện nay.
Về đám tang, đạo Ông Trần quy định, khi có người qua đời phải được chôn cất trong vòng 24 tiếng đồng hồ; không phải coi ngày giờ kiết- hung. Thực hiện “sáng tử, chiều táng - chiều tử sáng táng”, khi táng là xả tang ngay tại mộ. Gia chủ cũng đặc biệt không nhận tiền phúng điếu, điều này cũng đồng nghĩa với việc không có chuyện lợi dụng xác chết để trục lợi; phá vỡ tục lệ tang chế 3 năm, thực hành chính sách tiết kiệm trong ma chay, giỗ chạp, cưới xin nhằm mục đích không gây phiền hà, tốn kém trong cuộc sống hàng ngày cho người dân xã đảo.
Việc khác thường nữa là phần lớn người dân Long Sơn không an táng người chết theo kiểu tẩm liệm bằng quan tài mà sử dụng một áo quan đặc biệt gọi là bao quan. Bao quan được cấu tạo như chiếc quan tài, gồm một tấm ván bằng gỗ có nắp chụp với một khung gỗ bện bằng tre. Người chết được tẩm liệm bằng cách bó vải, sau đặt vào bao quan và khiêng ra nghĩa trang. Đến nơi nắp bao quan được mở ra, xác chết đưa xuống huyệt bằng những sợi vải trắng vắt ngang và việc xả tang được thực hiện ngay sau đó. Người dân Long Sơn cho rằng, an táng như thế này trước hết là tiết kiệm gỗ, chi phí cho thân nhân; sau thể hiện sự bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng, theo nghĩa “Sống đồng tịch đồng sàng-chết đồng quan đồng quách”.
Đám cưới ở Long Sơn cũng không phải coi ngày giờ. Việc hành lễ cũng được ấn định trong hai ngày: mùng một và mười sáu âm lịch hàng tháng. Cũng như đám tang, đám cưới là việc lớn của gia đình cần có sự chung tay góp sức của cả cộng đồng nên mọi người chung tay lo giúp, tương trợ lẫn nhau không phải trả công. Đặc biệt việc lễ không tổ chức linh đình, vật phẩm cúng kính, thết đãi thường là vật phẩm ngọt dẻo, chè xôi và trái cây. Tập tục này đang duy trì và phát huy nên các hủ tục lãng phí, xin xăm, lắc số, tử vi, đồng bóng…Nói chung là tệ mê tín dị đoan không còn đất sống tại đây.
Trang phục thường ngày của người dân Long Sơn là bộ Bà ba đen, chân không mang dép trông đậm tính Nam bộ thời xưa. Theo các vị kỳ lão trong Nhà Lớn- lối trang phục này là biểu hiện của con người giữ nguyên bổn, đề cao tính kiên trung, nghĩa khí “Đầu đội trời, chân đạp đất” và sâu xa hơn bộ bà ba rất tiện dụng trong lao động sản xuất của dân nghèo.
Ngoài những tập tục khác thường, di tích Nhà Lớn còn đựơc ví như viên ngọc quý vùng núi Nứa. Đó là một di tích bằng gỗ đồ sộ nhất nước; nơi có có chiếc áo quan có tuổi thọ và an táng người chết nhất nước; nơi có tập tục ma chay, cưới hỏi tiết kiệm nhất nước; di tích duy nhất trong cả nước có chương trình Cây Mùa Xuân tặng quà cho học sing nghèo hiếu học, ủng hộ đồng bào bị thiên tai dịch bệnh. Di tích duy nhất trong nước phục vụ miễn phí mua vé vào cửa; khách tham quan có nhu cầu ăn, ngủ được Nhà Lớn bố trí, phục vụ tận tình không phải tốn tiền./.
Friday, October 10, 2008
Hoàng hôn nhạt nhòa – Thơ QUANG NGỰ
Ảnh: KIM SA
Chỗ ngồi thuở ấy bờ đê
Hai chúng mình đã hẹn thề dưới trăng
Anh mơ ngày ấy đến nhanh
Em mơ ngày ấy sẽ thành nàng dâu
Nhưng giờ em ở nơi đâu?
Chỗ ngồi xưa đã tím màu cỏ may
Người buồn cảnh cũng buồn lây
Sông sâu đã cạn, non đầy khói sương
Mây vương bóng giữa chiều buồn
Anh vương lòng giữa hoàng hôn nhạt nhòa.
Ảnh: KIM SA
Chỗ ngồi thuở ấy bờ đê
Hai chúng mình đã hẹn thề dưới trăng
Anh mơ ngày ấy đến nhanh
Em mơ ngày ấy sẽ thành nàng dâu
Nhưng giờ em ở nơi đâu?
Chỗ ngồi xưa đã tím màu cỏ may
Người buồn cảnh cũng buồn lây
Sông sâu đã cạn, non đầy khói sương
Mây vương bóng giữa chiều buồn
Anh vương lòng giữa hoàng hôn nhạt nhòa.
PHÉP ĐỔ ĐẦU - LỄ CÚNG TẤT NIÊN
CỦA NGƯỜI CHĂM HROI
Mạnh Minh Tâm
Hàng năm, từ ngày 25 đến ngày cuối cùng của tháng chạp âm lịch, ai có dịp về các thôn buôn người Chăm hroi ở Hà Rai, xã Xuân Lãnh - Phú Tiến Phú Giang xã Phú Mỡ ( huyện Đồng Xuân ), chúng ta sẽ gặp không khí rộn ràng, hối hả trong từng gia đình - họ đang chuẩn bị lễ cúng đổ đầu, tiếng Chăm hroi gọi là Quoai chơ ruh a kơh một nghi lễ truyền thống của người Chăm được duy trì từ bao đời nay. Vừa nghe tên gọi có người nhầm tưởng đây là một hình thức tế lễ ma thuật mang màu sắc dị đoan. Song khi tìm hiểu thấu đáo cội nguồn cho thấy đổ đầu là một lễ thức đậm nét dân dã, hàm chứa ý tứ sâu xa của một cộng đồng dân tộc. Già làng Ma Phứ ở Phú Tiến nói rằng: người kinh có phong tục thờ cúng, nhưng dân tộc Chăm hroi chỉ có cúng chứ không có thờ. Lễ đổ đầu (còn gọi là tết Đỗ Đầu) như là một lễ cúng "tất niên" theo quan niệm của người Chăm hroi; dân tộc tôi cho rằng, qua một năm làm lụng, kết quả lao động đã cho dân làng có đủ cái ăn, cái mặc là nhờ vào "cái đầu" biết cách ăn nên làm ra. Để tỏ lòng biết ơn Giàng và các thần linh đã phù hộ cho mọi người "Sáng cái đầu, mạnh cái tay, khoẻ đôi chân” là nhờ vào phép đổ đầu Quoai chơ ruh a kơh. Trong lễ này với chi tiết hoà máu gà với rượu đổ lên trán các thành viên gia đình sau khi diễn trình hành lễ chính thức vừa kết thúc là hình ảnh thể hiện sự sinh sôi nẩy nở, biểu hiện tính phồn thực mang ý nghĩa lưu truyền huyết thống và sự tái sinh loài cùng với ước vọng tạo ra mọi sự sống mới trong năm mới.
Vào những ngày cuối năm của âm lịch, các làng chăm hroi gia đình nào cũng phải chuẩn bị cho ngày lễ đổ đầu. Đàn ông sửa sang nhà cửa, chuồng trại chăn nuôi bò heo, lau chùi dụng cụ sản xuất như cày bừa, rìu rựa, chày cối…Đàn bà hoàn tất việc dệt thổ cẩm, dọn dẹp những việc nội trợ dở dang, lau rửa nồi niêu bát đĩa; chuẩn bị con gà, ché rượu ngon, bánh tét, trầu cau…và những vật dụng cần thiết cho cuộc lễ đổ đầu.
Ngày lễ đổ đầu không phải nhất thiết thống nhất trong một ngày giữa các gia đình cũng như các làng với nhau. Vật tế lễ thường là ché rượu ngon nhất, một con gà cồ to, nồi cơm lúa mới, bánh trái hoa quả. Lễ được tiến hành trong từng gia đình. Ngày chính thức tiến hành lễ cúng, từ sáng sớm tinh mơ chủ gia ra đứng giữa sân nhà chắp tay khấn vái trời đất: “Hôm nay gia đình cúng lễ đổ đầu xin phép các thần linh được lên chòi rinh (kho thóc) mang lúa về giã gạo nấu cơm mới, xin phép được lên đầu con suối lấy bầu nước tinh khiết từ nguồn nước mạch rừng, được cắt tiết gà để tiến hành lễ cúng phép đổ đầu của gia đình”.
Lúa từ chòi rinh đem về, sấy khô, giã ra gạo rồi nấu cơm; con gà cồ là vật hiến lễ được đàn ông mang ra cắt tiết, làm lông, mổ rửa sạch, cắt lấy hai chân để luộc riêng. Tiết gà được giữ lại một phần ba để làm phép đổ đầu, hai phần ba còn lại đem luộc chín với gà. Tiết tươi giữ lại hoà thêm chút rượu cần lấy lần đầu từ ché rượu cúng.
Tiến hành lễ đổ đầu, ché rượu đem đặt giữa nhà, gà luộc chín đem đặt vào sàn, bộ lòng gà đặt một bên, miếng huyết chín đặt trên lưng gà, hai chân gà đặt sau đuôi gà. Chén huyết gà tươi, con gà luộc, đĩa trầu cau, bốn cây bánh tét, nửa khót gạo-muối là một mâm lễ vật cúng. Các dụng cụ, rìu rựa, gùi, nỏ đặt sau ché rượu.
Thầy cúng thắp đèn sáp ong vấn trên cần rượu, mọi người trong gia đình ngồi tề tựu nghiêm trang bên mâm cúng; đàn ông ngồi bên trái, phụ nữ ngồi bên phải nhìn từ cửa vào. Tất cả chờ đợi, lắng nghe lời khấn thiêng của thầy cúng đang hành lễ. Thầy cúng vừa khấn, vừa bốc một nắm gạo vãi lên mời Giàng pơkah, giàng Pơsưh về tiển năm cũ sắp hết, mừng năm mới đến, mừng gia đình mạnh khoẻ; nhờ Giàng phù giúp dân làng, gia đình có được mùa màng bội thu. Thầy cúng lại lấy nắm gạo thứ hai vãi ra tứ phía mời thần núi, thần suối, thần sông, thần trông giữ rẫy đồng, mời ông bà tổ tiên họ hàng Atâu về cùng con cháu hưởng lễ đổ đầu của gia đình.
Sau lời khấn vái của thầy cúng, vào thời điểm được xem là Giàng, thần linh tổ tiên đang thưởng thức vật tế thì thầy cúng thực hiện phép đổ đầu. Thầy cúng lấy chén rượu hoà với huyết gà tươi đổ một vài giọt vào trên đầu, lên trán người chủ gia đình, rồi thứ tự tiếp tục làm như vậy cho các thành viên trong gia đình với lời chúc mừng năm mới được khoẻ mạnh, sản xuất của cải thật nhiều, lúa ngập đầy chòi - trâu bò, heo gà đầy đàn. Xong lễ cúng, gia đình bầy dọn thịt gà, rượu cần mời bà con hàng xóm cùng gia đình ăn uống chúc mừng, chuyện trò vui vẻ. Trong ngày đổ đầu, những gia đình có nhiều đóng góp đáng kể đối với xóm làng, đội cồng chiêng của làng sẽ tổ chức đến hát múa chúc mừng, chung vui tưng bừng như một ngày hội./.
( Đ/c: Sở VHTT Phú Yên – 220 -Trần Hưng Đạo – TP Tuy Hoà)
CỦA NGƯỜI CHĂM HROI
Mạnh Minh Tâm
Hàng năm, từ ngày 25 đến ngày cuối cùng của tháng chạp âm lịch, ai có dịp về các thôn buôn người Chăm hroi ở Hà Rai, xã Xuân Lãnh - Phú Tiến Phú Giang xã Phú Mỡ ( huyện Đồng Xuân ), chúng ta sẽ gặp không khí rộn ràng, hối hả trong từng gia đình - họ đang chuẩn bị lễ cúng đổ đầu, tiếng Chăm hroi gọi là Quoai chơ ruh a kơh một nghi lễ truyền thống của người Chăm được duy trì từ bao đời nay. Vừa nghe tên gọi có người nhầm tưởng đây là một hình thức tế lễ ma thuật mang màu sắc dị đoan. Song khi tìm hiểu thấu đáo cội nguồn cho thấy đổ đầu là một lễ thức đậm nét dân dã, hàm chứa ý tứ sâu xa của một cộng đồng dân tộc. Già làng Ma Phứ ở Phú Tiến nói rằng: người kinh có phong tục thờ cúng, nhưng dân tộc Chăm hroi chỉ có cúng chứ không có thờ. Lễ đổ đầu (còn gọi là tết Đỗ Đầu) như là một lễ cúng "tất niên" theo quan niệm của người Chăm hroi; dân tộc tôi cho rằng, qua một năm làm lụng, kết quả lao động đã cho dân làng có đủ cái ăn, cái mặc là nhờ vào "cái đầu" biết cách ăn nên làm ra. Để tỏ lòng biết ơn Giàng và các thần linh đã phù hộ cho mọi người "Sáng cái đầu, mạnh cái tay, khoẻ đôi chân” là nhờ vào phép đổ đầu Quoai chơ ruh a kơh. Trong lễ này với chi tiết hoà máu gà với rượu đổ lên trán các thành viên gia đình sau khi diễn trình hành lễ chính thức vừa kết thúc là hình ảnh thể hiện sự sinh sôi nẩy nở, biểu hiện tính phồn thực mang ý nghĩa lưu truyền huyết thống và sự tái sinh loài cùng với ước vọng tạo ra mọi sự sống mới trong năm mới.
Vào những ngày cuối năm của âm lịch, các làng chăm hroi gia đình nào cũng phải chuẩn bị cho ngày lễ đổ đầu. Đàn ông sửa sang nhà cửa, chuồng trại chăn nuôi bò heo, lau chùi dụng cụ sản xuất như cày bừa, rìu rựa, chày cối…Đàn bà hoàn tất việc dệt thổ cẩm, dọn dẹp những việc nội trợ dở dang, lau rửa nồi niêu bát đĩa; chuẩn bị con gà, ché rượu ngon, bánh tét, trầu cau…và những vật dụng cần thiết cho cuộc lễ đổ đầu.
Ngày lễ đổ đầu không phải nhất thiết thống nhất trong một ngày giữa các gia đình cũng như các làng với nhau. Vật tế lễ thường là ché rượu ngon nhất, một con gà cồ to, nồi cơm lúa mới, bánh trái hoa quả. Lễ được tiến hành trong từng gia đình. Ngày chính thức tiến hành lễ cúng, từ sáng sớm tinh mơ chủ gia ra đứng giữa sân nhà chắp tay khấn vái trời đất: “Hôm nay gia đình cúng lễ đổ đầu xin phép các thần linh được lên chòi rinh (kho thóc) mang lúa về giã gạo nấu cơm mới, xin phép được lên đầu con suối lấy bầu nước tinh khiết từ nguồn nước mạch rừng, được cắt tiết gà để tiến hành lễ cúng phép đổ đầu của gia đình”.
Lúa từ chòi rinh đem về, sấy khô, giã ra gạo rồi nấu cơm; con gà cồ là vật hiến lễ được đàn ông mang ra cắt tiết, làm lông, mổ rửa sạch, cắt lấy hai chân để luộc riêng. Tiết gà được giữ lại một phần ba để làm phép đổ đầu, hai phần ba còn lại đem luộc chín với gà. Tiết tươi giữ lại hoà thêm chút rượu cần lấy lần đầu từ ché rượu cúng.
Tiến hành lễ đổ đầu, ché rượu đem đặt giữa nhà, gà luộc chín đem đặt vào sàn, bộ lòng gà đặt một bên, miếng huyết chín đặt trên lưng gà, hai chân gà đặt sau đuôi gà. Chén huyết gà tươi, con gà luộc, đĩa trầu cau, bốn cây bánh tét, nửa khót gạo-muối là một mâm lễ vật cúng. Các dụng cụ, rìu rựa, gùi, nỏ đặt sau ché rượu.
Thầy cúng thắp đèn sáp ong vấn trên cần rượu, mọi người trong gia đình ngồi tề tựu nghiêm trang bên mâm cúng; đàn ông ngồi bên trái, phụ nữ ngồi bên phải nhìn từ cửa vào. Tất cả chờ đợi, lắng nghe lời khấn thiêng của thầy cúng đang hành lễ. Thầy cúng vừa khấn, vừa bốc một nắm gạo vãi lên mời Giàng pơkah, giàng Pơsưh về tiển năm cũ sắp hết, mừng năm mới đến, mừng gia đình mạnh khoẻ; nhờ Giàng phù giúp dân làng, gia đình có được mùa màng bội thu. Thầy cúng lại lấy nắm gạo thứ hai vãi ra tứ phía mời thần núi, thần suối, thần sông, thần trông giữ rẫy đồng, mời ông bà tổ tiên họ hàng Atâu về cùng con cháu hưởng lễ đổ đầu của gia đình.
Sau lời khấn vái của thầy cúng, vào thời điểm được xem là Giàng, thần linh tổ tiên đang thưởng thức vật tế thì thầy cúng thực hiện phép đổ đầu. Thầy cúng lấy chén rượu hoà với huyết gà tươi đổ một vài giọt vào trên đầu, lên trán người chủ gia đình, rồi thứ tự tiếp tục làm như vậy cho các thành viên trong gia đình với lời chúc mừng năm mới được khoẻ mạnh, sản xuất của cải thật nhiều, lúa ngập đầy chòi - trâu bò, heo gà đầy đàn. Xong lễ cúng, gia đình bầy dọn thịt gà, rượu cần mời bà con hàng xóm cùng gia đình ăn uống chúc mừng, chuyện trò vui vẻ. Trong ngày đổ đầu, những gia đình có nhiều đóng góp đáng kể đối với xóm làng, đội cồng chiêng của làng sẽ tổ chức đến hát múa chúc mừng, chung vui tưng bừng như một ngày hội./.
( Đ/c: Sở VHTT Phú Yên – 220 -Trần Hưng Đạo – TP Tuy Hoà)
BỮA CƠM LÀNG
ĐẬM ĐÀ TÌNH QUÊ
Mạnh MinhTâm
Ngày lễ phát động xây dựng thôn văn hoá Tịnh Thọ,(xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hoà) là một ngày tụ họp đông vui nhất của dân làng. Mỗi người một việc; Ban thôn thì lo nội dung, trang trí, trang âm cho buổi lễ; hội người cao tuổi, đoàn thanh niên lo tập dợt những tiết mục văn nghệ; chị em phụ nữ thì chuẩn bị một bữa cơm trưa cho toàn thể dân làng…Tinh thần xúm xít, chung lo; ai cũng tươi rói nụ cười vì được phục vụ đón mừng sự kiện Tịnh Thọ xây dựng thôn văn hoá.
Trước lễ là một chương trình văn nghệ gần 30 phút, những tràng pháo tay kéo dài cổ vũ cho các cụ ông cụ bà sáu bảy mươi tuổi biễu diễn. Đặc sắc và được tán thưởng rầm rộ là tiết mục hát bài chòi của cụ bà trên 60 tuổi, một bài ca ngợi thời kháng chiến đánh Mỹ, theo thể thơ song thất lục bát, dài dằng dặc, cụ thuộc làu, hát đúng nhịp điệu không bì “xì hơi” là quá giỏi.
Vào lễ, nhân dân tập trung chú ý lắng nghe những điều khoản Quy ước thôn văn hoá và thực hiện những nghi thức lễ phát động. Thay mặt đảng uỷ và uỷ ban xã, Ông Nguyễn Ngọc Ngoãn - Phó chủ tịch phát biểu xúc tích, giản dị và dễ hiểu rằng: Văn hoá là cái không phải bổng nhiên mà có mà đều do con người tạo dựng nên; để xây dựng Ninh Thọ trở thành thôn văn hoá mỗi gia đình phải làm tốt công tác xây dựng gia đình văn hoá, giữ được nếp nhà trong ấm ngoài êm, ông bà cha mẹ sống mẫu mực để làm gương, nuôi dạy cho con cháu học hành tử tế, biết đạo đức và trách nhiệm của công dân; mọi người phải giỏi làm kinh tế để thoát nghèo và giảm tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% để mỗi năm trong thôn có thêm nhiều hộ giàu lên nhờ biết cách làm ăn, tiêu xài có kế hoạch.
Kết thúc lễ phát động, Trưởng thôn Hồ Như Hiển mời đại biểu tỉnh huyện và bà con dân làng dùng bữa cơm trưa được chị em phụ nữ thôn cất công chuẩn bị từ sáng sớm. Dưới tán bóng xoài mát rượi nhà thôn trưởng, già trẻ gái trai quây quần, chung hưởng bữa cơm làng; với những món ăn theo cách nói của bà con là “cây nhà lá vườn” nhưng thật đầm ấm, vui vẻ: một bát cháo lòng, đây là tấm lòng dân làng đãi khách. Mọi người ngồi chung mâm cơm đều chấm thức ăn trong chén nước mắm đặt giữa mâm như cùng gặp nhau trong một điểm hoà đồng… Trong tiếng mời chào rôm rả “kính cụ, kính anh”, phảng phất nét sinh hoạt văn hoá làng xã, một thoáng đời sống hương ẩm cộng đồng của dân tộc Việt từ xa xưa hiện về.
Trưởng thôn cho biết: Mỗi năm chỉ có một “bữa cơm làng” tổ chức vào dịp Ngày hội đại đoàn kết toàn dân ( ), bữa cơm này không theo quan niệm xưa “miếng thịt làng” hơn “một sàng thịt chợ” mà là một dịp cho bà con gặp gỡ, thắt chặt quan hệ tình làng nghĩa xóm. Nhờ những buổi họp mặt như thế này, những hục hặc, bất hoà trong chòm xóm đã được xí xoá “chín bỏ làm mười”. 80 hộ - 358 khẩu của thôn Tịnh Thọ, hơn nửa là dân “tứ xứ” ở các tỉnh phía bắc, phần lớn trước đây là công nhân Nông Trường Sơn Thành quy tụ về đây lập nghiệp. Xa quê ai cũng cần có bạn bè, coi láng giềng như bà con ruột thịt. Nhưng không phải, không có những kẻ ngang ngạnh, phóng túng cần có dịp gặp gỡ, cởi mở chân tình để cảm hoá thuyết phục. Sống nơi “đất cũ đãi người mới” nhưng đa số bà con ở đây vẫn giữ được truyền thống văn hoá Làng; bữa cơm làng có ý nghĩa nhắc nhở tinh thần “Đồng cam cộng khổ” và tình nghĩa “tối lửa, tắt đèn có nhau”.
Sau bữa cơm là chương trình “hát cho nhau nghe”, cao hứng anh Bình – Bí thư đảng uỷ xã lên ôm ghi-ta điện đàn cho cả nhóm hát, say sưa hát vang những bài ca cách mạng chào mừng chiến thắng 30-4. Bữa cơm làng được nhân đôi niềm vui, tin tưởng một ngày Ninh Thọ xây dựng thành công thôn văn hoá./.
…………………………………………………………………………………..
(Đ/c: Sở văn hoá, thể thao&du lịch Phú Yên – 220 Trần Hưng Đạo – TP Tuy Hoà)
ĐẬM ĐÀ TÌNH QUÊ
Mạnh MinhTâm
Ngày lễ phát động xây dựng thôn văn hoá Tịnh Thọ,(xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hoà) là một ngày tụ họp đông vui nhất của dân làng. Mỗi người một việc; Ban thôn thì lo nội dung, trang trí, trang âm cho buổi lễ; hội người cao tuổi, đoàn thanh niên lo tập dợt những tiết mục văn nghệ; chị em phụ nữ thì chuẩn bị một bữa cơm trưa cho toàn thể dân làng…Tinh thần xúm xít, chung lo; ai cũng tươi rói nụ cười vì được phục vụ đón mừng sự kiện Tịnh Thọ xây dựng thôn văn hoá.
Trước lễ là một chương trình văn nghệ gần 30 phút, những tràng pháo tay kéo dài cổ vũ cho các cụ ông cụ bà sáu bảy mươi tuổi biễu diễn. Đặc sắc và được tán thưởng rầm rộ là tiết mục hát bài chòi của cụ bà trên 60 tuổi, một bài ca ngợi thời kháng chiến đánh Mỹ, theo thể thơ song thất lục bát, dài dằng dặc, cụ thuộc làu, hát đúng nhịp điệu không bì “xì hơi” là quá giỏi.
Vào lễ, nhân dân tập trung chú ý lắng nghe những điều khoản Quy ước thôn văn hoá và thực hiện những nghi thức lễ phát động. Thay mặt đảng uỷ và uỷ ban xã, Ông Nguyễn Ngọc Ngoãn - Phó chủ tịch phát biểu xúc tích, giản dị và dễ hiểu rằng: Văn hoá là cái không phải bổng nhiên mà có mà đều do con người tạo dựng nên; để xây dựng Ninh Thọ trở thành thôn văn hoá mỗi gia đình phải làm tốt công tác xây dựng gia đình văn hoá, giữ được nếp nhà trong ấm ngoài êm, ông bà cha mẹ sống mẫu mực để làm gương, nuôi dạy cho con cháu học hành tử tế, biết đạo đức và trách nhiệm của công dân; mọi người phải giỏi làm kinh tế để thoát nghèo và giảm tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% để mỗi năm trong thôn có thêm nhiều hộ giàu lên nhờ biết cách làm ăn, tiêu xài có kế hoạch.
Kết thúc lễ phát động, Trưởng thôn Hồ Như Hiển mời đại biểu tỉnh huyện và bà con dân làng dùng bữa cơm trưa được chị em phụ nữ thôn cất công chuẩn bị từ sáng sớm. Dưới tán bóng xoài mát rượi nhà thôn trưởng, già trẻ gái trai quây quần, chung hưởng bữa cơm làng; với những món ăn theo cách nói của bà con là “cây nhà lá vườn” nhưng thật đầm ấm, vui vẻ: một bát cháo lòng, đây là tấm lòng dân làng đãi khách. Mọi người ngồi chung mâm cơm đều chấm thức ăn trong chén nước mắm đặt giữa mâm như cùng gặp nhau trong một điểm hoà đồng… Trong tiếng mời chào rôm rả “kính cụ, kính anh”, phảng phất nét sinh hoạt văn hoá làng xã, một thoáng đời sống hương ẩm cộng đồng của dân tộc Việt từ xa xưa hiện về.
Trưởng thôn cho biết: Mỗi năm chỉ có một “bữa cơm làng” tổ chức vào dịp Ngày hội đại đoàn kết toàn dân ( ), bữa cơm này không theo quan niệm xưa “miếng thịt làng” hơn “một sàng thịt chợ” mà là một dịp cho bà con gặp gỡ, thắt chặt quan hệ tình làng nghĩa xóm. Nhờ những buổi họp mặt như thế này, những hục hặc, bất hoà trong chòm xóm đã được xí xoá “chín bỏ làm mười”. 80 hộ - 358 khẩu của thôn Tịnh Thọ, hơn nửa là dân “tứ xứ” ở các tỉnh phía bắc, phần lớn trước đây là công nhân Nông Trường Sơn Thành quy tụ về đây lập nghiệp. Xa quê ai cũng cần có bạn bè, coi láng giềng như bà con ruột thịt. Nhưng không phải, không có những kẻ ngang ngạnh, phóng túng cần có dịp gặp gỡ, cởi mở chân tình để cảm hoá thuyết phục. Sống nơi “đất cũ đãi người mới” nhưng đa số bà con ở đây vẫn giữ được truyền thống văn hoá Làng; bữa cơm làng có ý nghĩa nhắc nhở tinh thần “Đồng cam cộng khổ” và tình nghĩa “tối lửa, tắt đèn có nhau”.
Sau bữa cơm là chương trình “hát cho nhau nghe”, cao hứng anh Bình – Bí thư đảng uỷ xã lên ôm ghi-ta điện đàn cho cả nhóm hát, say sưa hát vang những bài ca cách mạng chào mừng chiến thắng 30-4. Bữa cơm làng được nhân đôi niềm vui, tin tưởng một ngày Ninh Thọ xây dựng thành công thôn văn hoá./.
…………………………………………………………………………………..
(Đ/c: Sở văn hoá, thể thao&du lịch Phú Yên – 220 Trần Hưng Đạo – TP Tuy Hoà)
Tuesday, October 7, 2008
Monday, October 6, 2008
Sunday, October 5, 2008
Loài chim
Loài chim
Tạo hóa ban cho loài chim đôi cánh
Chúng vẫy vùng bay tít tận trời cao
Giữa trời đất loài chim vui giọng hót
Rót xuống đời xoa dịu những nỗi đau.
TVP
Tạo hóa ban cho loài chim đôi cánh
Chúng vẫy vùng bay tít tận trời cao
Giữa trời đất loài chim vui giọng hót
Rót xuống đời xoa dịu những nỗi đau.
TVP
Cánh hoa rừng
Cánh hoa rừng
Em đẹp chi lạ lùng
Một chiều tôi lạc bước
Mà nghe lòng bâng khuâng
Hoa không người chăm sóc
Hoa vẫn đẹp vô ngần
Bên suối rừng tinh khiết
Không vươn chút bụi trần
Có chú chim ngơ ngác
Trên xứ sở của mình
Một chàng trai trẻ lạ
Hôn cánh hoa rừng xinh
Trần Văn Phú
Trăng của tình yêu
Những vạt cỏ đẫm ướt sương khuya
Lối trăng xưa!
Anh dìu em bước!
Lửa tim yêu xua tan giá buốt
Môi kề môi trăng chảy vào lòng.
Đêm mông lung
trăng dìu dịu tỏa
Rồi ta xa nhau
Trăng sầu cô lẻ
Có lẽ đến giờ trăng vẫn trách hờn anh!
Trần Văn phú
Em đẹp chi lạ lùng
Một chiều tôi lạc bước
Mà nghe lòng bâng khuâng
Hoa không người chăm sóc
Hoa vẫn đẹp vô ngần
Bên suối rừng tinh khiết
Không vươn chút bụi trần
Có chú chim ngơ ngác
Trên xứ sở của mình
Một chàng trai trẻ lạ
Hôn cánh hoa rừng xinh
Trần Văn Phú
Trăng của tình yêu
Những vạt cỏ đẫm ướt sương khuya
Lối trăng xưa!
Anh dìu em bước!
Lửa tim yêu xua tan giá buốt
Môi kề môi trăng chảy vào lòng.
Đêm mông lung
trăng dìu dịu tỏa
Rồi ta xa nhau
Trăng sầu cô lẻ
Có lẽ đến giờ trăng vẫn trách hờn anh!
Trần Văn phú
Cánh hoa rừng
Cánh hoa rừng
Em đẹp chi lạ lùng
Một chiều tôi lạc bước
Mà nghe lòng bâng khuâng
Hoa không người chăm sóc
Hoa vẫn đẹp vô ngần
Bên suối rừng tinh khuyết
Không vươn chút bụi trần
Có chú chim ngơ ngác
Trên xứ sở của mình
Một chàng trai trẻ lạ
Hôn cánh hoa rừng xinh
Trần Văn PhúEm đẹp chi lạ lùng
Một chiều tôi lạc bước
Mà nghe lòng bâng khuâng
Hoa không người chăm sóc
Hoa vẫn đẹp vô ngần
Bên suối rừng tinh khuyết
Không vươn chút bụi trần
Có chú chim ngơ ngác
Trên xứ sở của mình
Một chàng trai trẻ lạ
Hôn cánh hoa rừng xinh
Trần Văn Phú
Em đẹp chi lạ lùng
Một chiều tôi lạc bước
Mà nghe lòng bâng khuâng
Hoa không người chăm sóc
Hoa vẫn đẹp vô ngần
Bên suối rừng tinh khuyết
Không vươn chút bụi trần
Có chú chim ngơ ngác
Trên xứ sở của mình
Một chàng trai trẻ lạ
Hôn cánh hoa rừng xinh
Trần Văn PhúEm đẹp chi lạ lùng
Một chiều tôi lạc bước
Mà nghe lòng bâng khuâng
Hoa không người chăm sóc
Hoa vẫn đẹp vô ngần
Bên suối rừng tinh khuyết
Không vươn chút bụi trần
Có chú chim ngơ ngác
Trên xứ sở của mình
Một chàng trai trẻ lạ
Hôn cánh hoa rừng xinh
Trần Văn Phú
Friday, October 3, 2008
NHỚ BẾN SÔNG QUÊ
Chiều nghiêng bóng nắng trên sông
Nhìn con nước chảy khuấy lòng nhớ thương
Người đi sông chợt lặng buồn
Nhập nhòe sóng nước còn gương bóng người
Mấy mùa nước đã trôi xuôi
Mà tình người vẫn ngậm ngùi đêm mơ
Chiều nay trên bến sông quê
Mình ta một bóng bơ vơ cõi lòng
Còn đây cát trắng mênh mông
Dấu chân hai đứa đậm trong tháng ngày
Lạc loài những cánh chim bay
Tình kia vẫn giữ có hay chăng người
Ra đi sao chẳng một lời
Sông giờ bên lở, bên bồi dở dang
Buồn trôi trên nước miên mang
Chiều buông tiếng cuốc kêu vang nhớ người.
Trần Văn Phú
Chiều nghiêng bóng nắng trên sông
Nhìn con nước chảy khuấy lòng nhớ thương
Người đi sông chợt lặng buồn
Nhập nhòe sóng nước còn gương bóng người
Mấy mùa nước đã trôi xuôi
Mà tình người vẫn ngậm ngùi đêm mơ
Chiều nay trên bến sông quê
Mình ta một bóng bơ vơ cõi lòng
Còn đây cát trắng mênh mông
Dấu chân hai đứa đậm trong tháng ngày
Lạc loài những cánh chim bay
Tình kia vẫn giữ có hay chăng người
Ra đi sao chẳng một lời
Sông giờ bên lở, bên bồi dở dang
Buồn trôi trên nước miên mang
Chiều buông tiếng cuốc kêu vang nhớ người.
Trần Văn Phú
Quê mẹ Xuân Quang
Ai về quê mẹ Xuân Quang
Đường lên mấy dốc gió ngàn nhẹ đưa
Đồi tranh cây đứng lưa thưa
Trái trâm trái giấy tuổi thơ ngọt ngào
Đường làng phiên chợ xôn xao
Tiếng xe ngựa vượt dốc đèo leng keng
Quê hương biết mấy yêu thương
Bờ tre ruộng lúa con mương thấm tình
Dòng sông nước chảy quanh quanh
Đi qua thôn xóm lúa xanh đôi bờ
Chiếc cầu nối những làng quê
Bao đời mơ ước bây giờ là đây
Từng lò gạch khói lam bay
Khang trang nhà mới dựng xây thêm nhiều
Chiều quê bay bổng cánh diều
Cho em mơ ước bao điều tương lai
Cánh cò lặn lội ngày ngày
Quê ta rồi sẽ mai này đẹp hơn.
Trần Văn Phú
Ai về quê mẹ Xuân Quang
Đường lên mấy dốc gió ngàn nhẹ đưa
Đồi tranh cây đứng lưa thưa
Trái trâm trái giấy tuổi thơ ngọt ngào
Đường làng phiên chợ xôn xao
Tiếng xe ngựa vượt dốc đèo leng keng
Quê hương biết mấy yêu thương
Bờ tre ruộng lúa con mương thấm tình
Dòng sông nước chảy quanh quanh
Đi qua thôn xóm lúa xanh đôi bờ
Chiếc cầu nối những làng quê
Bao đời mơ ước bây giờ là đây
Từng lò gạch khói lam bay
Khang trang nhà mới dựng xây thêm nhiều
Chiều quê bay bổng cánh diều
Cho em mơ ước bao điều tương lai
Cánh cò lặn lội ngày ngày
Quê ta rồi sẽ mai này đẹp hơn.
Trần Văn Phú
Nhớ Vợ
Nhớ Vợ
Em ra thị xã để sinh
Ở nhà anh lại một mình cô đơn
Nhớ em giấc ngủ chẳng yên
Nhớ con chưa biết đặt tên là gì?
Chẳng lo là gái hay trai?
Mẹ con mạnh khỏe cả hai anh mừng
Mong cho ngày ấy đến nhanh
Để xem mặt mũi con anh thế nào?
Chưa nằm gà gáy rồi sao ?
Nhớ em lòng dạ cồn cào khôn nguôi!
Trần Văn Phú
Em ra thị xã để sinh
Ở nhà anh lại một mình cô đơn
Nhớ em giấc ngủ chẳng yên
Nhớ con chưa biết đặt tên là gì?
Chẳng lo là gái hay trai?
Mẹ con mạnh khỏe cả hai anh mừng
Mong cho ngày ấy đến nhanh
Để xem mặt mũi con anh thế nào?
Chưa nằm gà gáy rồi sao ?
Nhớ em lòng dạ cồn cào khôn nguôi!
Trần Văn Phú
MÙI ĐẤT QUÊ HƯƠNG
Trên cánh đồng này!
Nhớ khi xưa...
Cha cày, mẹ đều tay gieo hạt
Tôi còn ngây thơ!
Suốt buổi mãi mê đi tìm bắt dế
Những chú dế trốn đâu mà giỏi thế
Tìm ở chỗ này nghe gáy ở nơi kia
Thời gian trôi qua!
Biết bao mùa lá rụng dưới gốc đa
Cha mẹ già đã ra người thiên cổ
Còn tôi phương trời viễn xứ
Bao năm rồi chưa về lại quê xưa
Ký ức tuổi thơ tưởng đã phai mờ
Chợt sống dậy!
Khi tôi nhìn thấy!
Trên cánh đồng này cũng cha cày, mẹ đều tay gieo hạt
Cũng có chú bé nào tìm bắt dế mãi mê
Sao quá giống mình từ thuở ngày thơ
Gió đến bên tôi thì thầm nhắc chuyện
Gió khóc dùm tôi đôi dòng lệ cạn
Thiên đường ngày nào giờ đã xa xưa...
Tràn ngập hồn tôi mùi đất nồng ngây ngất
Và tôi hiểu vì sao con người tìm về cố quốc?
Bởi trong mỗi người thấm mùi đất quê hương.
Trần Văn Phú
Trên cánh đồng này!
Nhớ khi xưa...
Cha cày, mẹ đều tay gieo hạt
Tôi còn ngây thơ!
Suốt buổi mãi mê đi tìm bắt dế
Những chú dế trốn đâu mà giỏi thế
Tìm ở chỗ này nghe gáy ở nơi kia
Thời gian trôi qua!
Biết bao mùa lá rụng dưới gốc đa
Cha mẹ già đã ra người thiên cổ
Còn tôi phương trời viễn xứ
Bao năm rồi chưa về lại quê xưa
Ký ức tuổi thơ tưởng đã phai mờ
Chợt sống dậy!
Khi tôi nhìn thấy!
Trên cánh đồng này cũng cha cày, mẹ đều tay gieo hạt
Cũng có chú bé nào tìm bắt dế mãi mê
Sao quá giống mình từ thuở ngày thơ
Gió đến bên tôi thì thầm nhắc chuyện
Gió khóc dùm tôi đôi dòng lệ cạn
Thiên đường ngày nào giờ đã xa xưa...
Tràn ngập hồn tôi mùi đất nồng ngây ngất
Và tôi hiểu vì sao con người tìm về cố quốc?
Bởi trong mỗi người thấm mùi đất quê hương.
Trần Văn Phú
TRĂN TRỞ LÒNG CON
TRĂN TRỞ LÒNG CON
Con chỉ sợ một ngày kia mẹ không còn nữa
Mà con lo cho mẹ vẫn chưa tròn
Nghĩ thương mẹ sớm thành góa bụa
Tay chống, tay chèo nuôi chúng con
Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ
Điều ấy giờ đây con đã thấm lòng
Cơm áo cuộc đời trăm cay nghìn đắng
Mà mẹ một mình gánh nặng trên lưng
Mẹ ơi lòng con vẫn thường trăn trở
Làm sao tuổi già mẹ được thêm vui
Để một mai nếu mẹ không còn nữa
Thì cuôc đời này con bớt nguôi ngoai.
Trần Văn Phú
Con chỉ sợ một ngày kia mẹ không còn nữa
Mà con lo cho mẹ vẫn chưa tròn
Nghĩ thương mẹ sớm thành góa bụa
Tay chống, tay chèo nuôi chúng con
Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ
Điều ấy giờ đây con đã thấm lòng
Cơm áo cuộc đời trăm cay nghìn đắng
Mà mẹ một mình gánh nặng trên lưng
Mẹ ơi lòng con vẫn thường trăn trở
Làm sao tuổi già mẹ được thêm vui
Để một mai nếu mẹ không còn nữa
Thì cuôc đời này con bớt nguôi ngoai.
Trần Văn Phú
Mùa nấm và món bánh xèo quê tôi
Mùa nấm và món bánh xèo quê tôi
Đồng Xuân quê tôi là huyện miền núi, có nhiều loại nấm mọc. Trong đó các loài nấm ăn được và ngon nhất là loài nấm hương. Người dân quê tôi quen gọi là nấm Mối. Nấm thường mọc vào tiết lập Đông và mọc trong thời gian 3 - 5 ngày.
Vào cuối thu, những cơn mưa dầm làm bấy đất; trời nắng mưa bất chợt, gió bấc trộn lẫn những cơn mưa rì rào, lắc cắc rồi chợt tắt, chợt mưa người dân quê tôi gọi là mưa nấm. Ngày đêm có mấy chục cơn mưa như vậy, ào ào rồi “xửng” đó là dấu hiệu mùa nấm Mối mọc. Thế là mọi người trong làng đổ xô đi tìm những khoanh nấm trong những bờ rào rậm, rừng lá thấp. Cầm theo cái rựa để dọn, phòng khi nấm mọc trong những bụi gai. Mang theo tấm ni lon vừa để che mưa, vừa bọc khi nhổ nấm.
Thành ngữ quê tôi có câu: “Mừng như gặp nấm” và rất đúng với bọn trẻ con chúng tôi. Mỗi khi thấy cánh người lớn đi tìm nấm, trẻ con chúng tôi cũng háo hức rủ nhau theo hôi “Đi tìm nấm tụi bay ơi”. Thế là chia nhau mỗi đứa một hướng lục lội săn tìm trong bụi rậm, hàng rào - dúi đầu, căng mắt mà tìm. Mỗi khi thấy nấm là “A lô xô” tranh nhau mà nhổ; “Ham như ham nấm” mà! Giành giựt, quơ quào thí xát làm nát bấy những tai nấm vốn mềm ợt dễ vỡ. Vì thế có những khoanh nấm nhổ về chỉ còn chân nấm, còn tai nấm thường nát bấy dùng để nấu cho heo.
Mỗi cây nấm khi mọc lên nở ra giống như những chiếc dù che mưa; nơi cán dù người ta gọi là chân nấm. Chân nấm thường dài nửa gang tay, rất dai. Còn tai nấm thường to bằng lòng bàn tay và rất mềm, dễ vỡ nát. Nấm mọc trong vòng ba ngày, không ai tìm thấy là nấm tàn, nếu gặp mưa nấm sẽ mau tàn hơn. Đôi khi chúng tôi cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ khi bắt gặp những khoanh nấm đã tàn đang nuôi lũ vòi béo nung, béo núc đeo bám.
Thuở nhỏ tôi nghe những người lớn tuổi và ngây thơ tin rằng có người “sát nấm”. Đó là những người ra ngõ là gặp nấm, khi về là túi nặng đầy nấm. Còn những người kỵ nấm thì dù có đi tìm “táo tể” vẫn không tìm thấy nấm. Lớn lên, mỗi ngày một khôn tôi mới nhận ra rằng: người “sát nấm” là những người có đức tính siêng năng, chịu khó, biết để ý tìm tòi. Khi phát hiện và nhổ được khoanh nấm mọc thì bí mật, làm dấu vị trí, chờ năm sau đợi mùa nấm năm sau, âm thầm tới tìm khỏi mất công mò mẫn. Những người không biết, đi tìm nấm như vô định thường là xách rổ về không.
Nấm tìm được thường chỉ đủ ăn, nhiều thì dành một ít phân phát cho anh em, bà con lối xóm gọi là “ăn lấy thảo”. Năm nào được mùa nấm nhiều đến mức ăn không hết thì rửa sạch cho vào hủ làm nước mắm dùng để nêm canh rau. Bây giờ người ta “trúng nấm” mong được nhiều để mang ra chợ bán.
Tiết lập Đông gió bấc, trời se se lạnh, đang lúc nông nhàn, bên bếp lửa hồng có rổ nấm để đúc bánh xèo thì thật là hợp thời, hợp tiết. Khi có nấm để đúc bánh xèo, dùng nuột lạc cạo sạch đất bám vào chân nấm. Rửa nhẹ nhàng mặt ngoài tai nấm và bẻ tai nấm ra thành nhiều miếng, chân nấm xé nhỏ ra từng cọng. Đem nấm làm xong bỏ vào chảo dầu đang sôi tới, đảo qua đảo lại cho nấm vừa săng chín tới, nếu chín quá nấm ra nước chỉ còn bã nấm là mất ngon. Đổ nấm xào vào thau bột và ngồi đúc bánh, vớt ra ăn nóng càng ngon.
Bánh xèo nấm chỉ chấm với chén nước mắm ngon dầm với trái ớt xiêm (còn gọi ớt hiểm, tuy bé nhưng cay đáo để) ăn với rau thơm trộn giá. Đừng đợi vợ con bày lên bàn, như thế bánh nguội mất ngon, mà bạn hãy đi ngay xuống bếp,vừa ngắm đôi má ửng hồng, lấm tấm mồ hôi của bà xã, vừa thưởng thức hương vị bánh xèo nóng sẽ thú vị hơn nhiều.
Gió bấc lạnh lạnh. Ngồi bên bếp lò âm ấm đón từng cái bánh vớt ra còn nong nóng, cuốn với rau sống, chấm vào chén mắm ớt cay. Cứ vậy mà thưởng thức, cái “giòn giòn” của bánh chín vàng, Cái mềm dai của tai chân nấm, cái “beo béo” của dầu phộng, hương thơm của rau mùi, vị “ngòn ngọt” của nấm sẽ làm cho người ăn cảm thấy lạ miệng với cảm giác được thưởng thức một món ăn dân dã vừa ngon “hết ý”, lại bổ dưỡng vô cùng. Món ăn dân quê mỗi năm chỉ được một lần ăn.
Bụng đã no căng, bước lên nhà trên, uống vội mấy hớp nước chè nóng để cho miệng bớt cay, quấn ngay một điếu thuốc lá Kỳ Lộ - Loại thuốc lá nổi tiếng của đất Phú Yên – rít vài hơi liền cho đã. Tàn xong điếu thuốc, hồn chợt lân lân mà chợt nghĩ: “Cuộc đời này kể ra cũng có lý”. Kéo chiếc gối kê dưới đầu, đặt lưng xuống phản (ván), nằm nghe mưa rơi tí tách hòa với tiếng đúc bánh “xèo xèo” vọng lên từ bếp như một bản nhạc dịu êm, ru ta vào giấc mộng vàng của thú điền viên và tạm quên đi những ngày mùa vất vả nhọc nhằn.
Trần Văn Phú
Xã Xuân Quang 3,
Đồng Xuân, Phú Yên
Đồng Xuân quê tôi là huyện miền núi, có nhiều loại nấm mọc. Trong đó các loài nấm ăn được và ngon nhất là loài nấm hương. Người dân quê tôi quen gọi là nấm Mối. Nấm thường mọc vào tiết lập Đông và mọc trong thời gian 3 - 5 ngày.
Vào cuối thu, những cơn mưa dầm làm bấy đất; trời nắng mưa bất chợt, gió bấc trộn lẫn những cơn mưa rì rào, lắc cắc rồi chợt tắt, chợt mưa người dân quê tôi gọi là mưa nấm. Ngày đêm có mấy chục cơn mưa như vậy, ào ào rồi “xửng” đó là dấu hiệu mùa nấm Mối mọc. Thế là mọi người trong làng đổ xô đi tìm những khoanh nấm trong những bờ rào rậm, rừng lá thấp. Cầm theo cái rựa để dọn, phòng khi nấm mọc trong những bụi gai. Mang theo tấm ni lon vừa để che mưa, vừa bọc khi nhổ nấm.
Thành ngữ quê tôi có câu: “Mừng như gặp nấm” và rất đúng với bọn trẻ con chúng tôi. Mỗi khi thấy cánh người lớn đi tìm nấm, trẻ con chúng tôi cũng háo hức rủ nhau theo hôi “Đi tìm nấm tụi bay ơi”. Thế là chia nhau mỗi đứa một hướng lục lội săn tìm trong bụi rậm, hàng rào - dúi đầu, căng mắt mà tìm. Mỗi khi thấy nấm là “A lô xô” tranh nhau mà nhổ; “Ham như ham nấm” mà! Giành giựt, quơ quào thí xát làm nát bấy những tai nấm vốn mềm ợt dễ vỡ. Vì thế có những khoanh nấm nhổ về chỉ còn chân nấm, còn tai nấm thường nát bấy dùng để nấu cho heo.
Mỗi cây nấm khi mọc lên nở ra giống như những chiếc dù che mưa; nơi cán dù người ta gọi là chân nấm. Chân nấm thường dài nửa gang tay, rất dai. Còn tai nấm thường to bằng lòng bàn tay và rất mềm, dễ vỡ nát. Nấm mọc trong vòng ba ngày, không ai tìm thấy là nấm tàn, nếu gặp mưa nấm sẽ mau tàn hơn. Đôi khi chúng tôi cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ khi bắt gặp những khoanh nấm đã tàn đang nuôi lũ vòi béo nung, béo núc đeo bám.
Thuở nhỏ tôi nghe những người lớn tuổi và ngây thơ tin rằng có người “sát nấm”. Đó là những người ra ngõ là gặp nấm, khi về là túi nặng đầy nấm. Còn những người kỵ nấm thì dù có đi tìm “táo tể” vẫn không tìm thấy nấm. Lớn lên, mỗi ngày một khôn tôi mới nhận ra rằng: người “sát nấm” là những người có đức tính siêng năng, chịu khó, biết để ý tìm tòi. Khi phát hiện và nhổ được khoanh nấm mọc thì bí mật, làm dấu vị trí, chờ năm sau đợi mùa nấm năm sau, âm thầm tới tìm khỏi mất công mò mẫn. Những người không biết, đi tìm nấm như vô định thường là xách rổ về không.
Nấm tìm được thường chỉ đủ ăn, nhiều thì dành một ít phân phát cho anh em, bà con lối xóm gọi là “ăn lấy thảo”. Năm nào được mùa nấm nhiều đến mức ăn không hết thì rửa sạch cho vào hủ làm nước mắm dùng để nêm canh rau. Bây giờ người ta “trúng nấm” mong được nhiều để mang ra chợ bán.
Tiết lập Đông gió bấc, trời se se lạnh, đang lúc nông nhàn, bên bếp lửa hồng có rổ nấm để đúc bánh xèo thì thật là hợp thời, hợp tiết. Khi có nấm để đúc bánh xèo, dùng nuột lạc cạo sạch đất bám vào chân nấm. Rửa nhẹ nhàng mặt ngoài tai nấm và bẻ tai nấm ra thành nhiều miếng, chân nấm xé nhỏ ra từng cọng. Đem nấm làm xong bỏ vào chảo dầu đang sôi tới, đảo qua đảo lại cho nấm vừa săng chín tới, nếu chín quá nấm ra nước chỉ còn bã nấm là mất ngon. Đổ nấm xào vào thau bột và ngồi đúc bánh, vớt ra ăn nóng càng ngon.
Bánh xèo nấm chỉ chấm với chén nước mắm ngon dầm với trái ớt xiêm (còn gọi ớt hiểm, tuy bé nhưng cay đáo để) ăn với rau thơm trộn giá. Đừng đợi vợ con bày lên bàn, như thế bánh nguội mất ngon, mà bạn hãy đi ngay xuống bếp,vừa ngắm đôi má ửng hồng, lấm tấm mồ hôi của bà xã, vừa thưởng thức hương vị bánh xèo nóng sẽ thú vị hơn nhiều.
Gió bấc lạnh lạnh. Ngồi bên bếp lò âm ấm đón từng cái bánh vớt ra còn nong nóng, cuốn với rau sống, chấm vào chén mắm ớt cay. Cứ vậy mà thưởng thức, cái “giòn giòn” của bánh chín vàng, Cái mềm dai của tai chân nấm, cái “beo béo” của dầu phộng, hương thơm của rau mùi, vị “ngòn ngọt” của nấm sẽ làm cho người ăn cảm thấy lạ miệng với cảm giác được thưởng thức một món ăn dân dã vừa ngon “hết ý”, lại bổ dưỡng vô cùng. Món ăn dân quê mỗi năm chỉ được một lần ăn.
Bụng đã no căng, bước lên nhà trên, uống vội mấy hớp nước chè nóng để cho miệng bớt cay, quấn ngay một điếu thuốc lá Kỳ Lộ - Loại thuốc lá nổi tiếng của đất Phú Yên – rít vài hơi liền cho đã. Tàn xong điếu thuốc, hồn chợt lân lân mà chợt nghĩ: “Cuộc đời này kể ra cũng có lý”. Kéo chiếc gối kê dưới đầu, đặt lưng xuống phản (ván), nằm nghe mưa rơi tí tách hòa với tiếng đúc bánh “xèo xèo” vọng lên từ bếp như một bản nhạc dịu êm, ru ta vào giấc mộng vàng của thú điền viên và tạm quên đi những ngày mùa vất vả nhọc nhằn.
Trần Văn Phú
Xã Xuân Quang 3,
Đồng Xuân, Phú Yên
XANH THẮM ĐỒNG XUÂN
Núi vòng tay ôm ấp miền quê
Quê hương yêu lắm tự ngày thơ
Sông con, sông cái dâng màu mỡ
Mùa lại lên xanh những bãi bờ
La Hai phố núi em duyên dáng
Tan trường áo trắng nét ngây thơ
Chợt nhớ con đường ngày xưa ấy
Tình đơn phương ôm mộng đến giờ
Núi liền núi, điệp trùng ngàn núi
Xanh ngát xanh làng xóm ruộng đồng
Khúc tình ca trăm con suối hát
Mùa mưa về nô nức ra sông
Cánh cò chao, lòng bao xao xuyến
Cổ tích còn lẫn khuất bờ tre
Đồng Xuân đỏ lửa thời chinh chiến
Thanh bình xanh thắm một miền quê.
Trần Văn Phú.
Núi vòng tay ôm ấp miền quê
Quê hương yêu lắm tự ngày thơ
Sông con, sông cái dâng màu mỡ
Mùa lại lên xanh những bãi bờ
La Hai phố núi em duyên dáng
Tan trường áo trắng nét ngây thơ
Chợt nhớ con đường ngày xưa ấy
Tình đơn phương ôm mộng đến giờ
Núi liền núi, điệp trùng ngàn núi
Xanh ngát xanh làng xóm ruộng đồng
Khúc tình ca trăm con suối hát
Mùa mưa về nô nức ra sông
Cánh cò chao, lòng bao xao xuyến
Cổ tích còn lẫn khuất bờ tre
Đồng Xuân đỏ lửa thời chinh chiến
Thanh bình xanh thắm một miền quê.
Trần Văn Phú.
Mùa biển xa
Mùa biển xa
Quang Ngự
Con đường bổng nát nhàu gương mặt
Tiếng gió thở dài eo óc
Chia sẻ cùng em nỗi nhớ thương
Thương em cuộc đời tần tảo
Sóng dập gió dồi vì miếng cơm manh áo
Mỗi mùa biển về hai đứa lại xa nhau
Em chẳng bao giờ trách em đâu
Chỉ trách thầm số phận
Đêm nằm nghe dội về từng đợt sóng
Từng cơn mưa nắng gió biển xa
Nhưng anh ơi!
không gì có thể lay chuyển đôi ta
Không thử thách nào đổi thay khác được
Màu đỏ con tim
Màu đỏ ấy trong ta!.
Quang Ngự
Con đường bổng nát nhàu gương mặt
Tiếng gió thở dài eo óc
Chia sẻ cùng em nỗi nhớ thương
Thương em cuộc đời tần tảo
Sóng dập gió dồi vì miếng cơm manh áo
Mỗi mùa biển về hai đứa lại xa nhau
Em chẳng bao giờ trách em đâu
Chỉ trách thầm số phận
Đêm nằm nghe dội về từng đợt sóng
Từng cơn mưa nắng gió biển xa
Nhưng anh ơi!
không gì có thể lay chuyển đôi ta
Không thử thách nào đổi thay khác được
Màu đỏ con tim
Màu đỏ ấy trong ta!.
GÀNH ĐÁ ĐĨA
GÀNH ĐÁ ĐĨA
Đắc Tấn
Thu về trên Gành đá đĩa
Bầu trời xanh gió hát xôn xao
Đàn hải âu nghiêng cánh vẫy chào
Sóng hôn đá thì thầm cười rúc rích
Nghe như lời vọng người xưa nơi trầm tích
Bàn cờ tiên tạo hóa tặng người
Cảnh đẹp huy hoàng lộng gió trùng khơi
Khúc xạ bình minh như giác vàng giác ngọc
Ôi ! những đồng tiền xếp thành hàng, thành cọc
Đọc đáo tuyệt vời đất Phú quê tôi.
Du khách thập phương hết dạo lại ngồi
Phóng tầm mắt xuyên đại dương gửi hồn theo sóng
Tấp nập tàu thuyền buồm canh gió lộng
Có bức tranh nào đẹp hơn thế anh ơi?
Nhắn nhủ những ai nơi góc bể chân trời
Gành Đá Đĩa đợi chờ ,dang tay, điểm hẹn.
Đắc Tấn
Thu về trên Gành đá đĩa
Bầu trời xanh gió hát xôn xao
Đàn hải âu nghiêng cánh vẫy chào
Sóng hôn đá thì thầm cười rúc rích
Nghe như lời vọng người xưa nơi trầm tích
Bàn cờ tiên tạo hóa tặng người
Cảnh đẹp huy hoàng lộng gió trùng khơi
Khúc xạ bình minh như giác vàng giác ngọc
Ôi ! những đồng tiền xếp thành hàng, thành cọc
Đọc đáo tuyệt vời đất Phú quê tôi.
Du khách thập phương hết dạo lại ngồi
Phóng tầm mắt xuyên đại dương gửi hồn theo sóng
Tấp nập tàu thuyền buồm canh gió lộng
Có bức tranh nào đẹp hơn thế anh ơi?
Nhắn nhủ những ai nơi góc bể chân trời
Gành Đá Đĩa đợi chờ ,dang tay, điểm hẹn.
Thursday, October 2, 2008
Subscribe to:
Comments (Atom)










































